|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 26-02-2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Lê Xuân Thuật.
Thư ký phiên toà: Ông Đào Tiến Đạt - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 26/02/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/HSST-TL ngày 22/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 06/02/2025, đối với các bị cáo:
- Hà Văn D, sinh năm 2000, nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn D1 và con bà Đỗ Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm gian từ ngày 23/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Có mặt.
- Lò Văn Q, sinh năm 1997, nơi cư trú: Bản X, xã S, huyện P, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con nuôi ông Lò Văn N và con bà Lò Thị V; con đẻ ông Nguyễn Văn D2 và bà Đinh Thị T1; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 23/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
- Nguyễn Đăng B, sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng B1 và con bà Đỗ Thị L; có vợ là Luyện Quỳnh N1; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 07/7/2014 bị Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thạc 02 năm 06 tháng về tội Đánh bạc, chấp hành xong bản án ngày 07/2/2017; bị tạm giam từ ngày 23/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Y. Có mặt.
- Nguyễn Văn T2, sinh năm 2001, nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T3 (đã chết) và con bà Phan Thị T4; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 24/10/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
- Nguyễn Quốc H, sinh năm 1994, nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và con bà Nguyễn Thị T5; có vợ là Bùi Thị X và có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 17/10/2024 đến ngày 07/11/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Có mặt.
Bị hại: Anh Ma Quang V1, sinh năm 2002, trú tại: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Viết C, sinh năm 1985, trú tại: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
Người làm chứng:
- Anh Đỗ Văn T6, sinh năm 2002, trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Lưu Xuân K, sinh năm 2000, trú tại: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên;
- Chị Lò Thị L1, sinh năm 2005, hộ khẩu thường trú: Bản C, xã C, huyện B, tỉnh Sơn La;
- - Chị Sa Thị Huỳnh N2, sinh năm 2006, hộ khẩu thường trú: Bản Đ, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La;
- - Anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 2002, Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên;
- - Anh Đoàn Bá D3, sinh năm 2002, trú tại: Thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 01/7/2024, chị Sa Quỳnh N3, sinh năm 2006, hộ khẩu thường trú tại bản Đ, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La cùng chị Lò Thị L1, sinh năm 2005, hộ khẩu thường trú tại bản C, xã C, huyện B, tỉnh Sơn La; anh Ma Quang V1, sinh năm 2002, trú tại thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên ngồi uống bia cùng nhau. Chị N3 sợ Hà Văn D, sinh năm 2000, trú tại thôn N, xã T, huyện Y (người yêu của chị N3) biết sẽ ghen tuông nên chị N3 dặn anh V1 không kể lại chuyện này cho D. Đến khoảng 23 giờ ngày 01/7/2024, Hà Văn D đang ở cùng chị N3 tại phòng trọ thuê của gia đình bà Nguyễn Thị Minh Y, sinh năm 1963 ở thôn H, xã L, huyện Y thì anh V1 gọi điện thoại kể cho D biết việc trên nên D chửi chị N3. Lúc này chị N3 bực tức nên đi sang phòng trọ của chị L1 và anh V1 ở sát bên cạnh dùng chân đạp vào cửa gọi anh V1 ra nói chuyện, D đi theo sau. Thấy vậy, anh V1 đi từ trong phòng ra mở cửa, đọa đánh chị N3, D nói “Bạn không động được vào nó đâu” thì anh V1 trả lời “Thế mày thích như nào”, D nói “Thích như nào cũng được” rồi cả hai đi về phòng trọ của mình. Sau đó D gọi điện thoại cho anh Đỗ Văn T6, sinh năm 2001, ở thôn H, xã T, huyện Y nói chuyện và rủ anh T6 lên đánh anh V1 nhưng anh T6 là người quen của anh V1 nên từ chối, đồng thời anh T6 nói để anh Tó sẽ ở giữa trung gian giảng hòa cho cả hai. Một lúc sau, anh T6 đi đến phòng trọ của Hà Văn D rồi anh T6 và D đi sang phòng trọ của anh V1 để nói chuyện nhưng anh V1 không mở cửa, nên anh T6 và D đi ra đầu ngõ khu trọ thì thấy 3-4 người nam thanh niên đứng ở đó. Dự nghĩ rằng những người này do anh V1 gọi đến để đánh mình nên D gọi điện thoại cho Nguyễn Đăng B, sinh năm 1993 ở thôn C, xã T, huyện Y nói “Anh lên chỗ khu trọ em, có thằng nó định đánh em” B hiểu ý là lên đánh nhau thì B đồng ý. Lúc này B đang đi cùng Nguyễn Quốc H, sinh năm 1994 ở cùng thôn nên B rủ H đi cùng. Khoảng 15 phút sau, H chở B đi đến khu trọ gặp D. Tại khu trọ có Lò Văn Q, sinh năm 1997, hộ khẩu thường trú tại bản X, xã S, huyện P, tỉnh Sơn La thuê phòng trọ cạnh phòng chị L1 và Nguyễn Văn T2, sinh năm 2001 ở cùng thôn với B đi từ trong phòng trọ của Q ra cùng đi với D, B, H, anh T6 đi sang phòng trọ của anh V1 để nói chuyện, nhưng anh V1 không ra mà đứng trong phòng chửi D. Sau đó cả nhóm đi ra đầu ngõ khu trọ thì D kể lại chuyện mâu thuẫn với anh V1 và nhờ B, Q, H, T2 giúp thì tất cả đều hiểu ý sẽ đánh nhau cùng. Cả nhóm của D đi ra đầu đường 380 thì gặp anh Lưu Xuân K, sinh năm 2000, ở thôn T, xã N, huyện Y đi đến. Thấy D, anh K nói “toàn mấy anh em cả, quay lại đây nói chuyện” thì D bảo mọi người quay lại gặp anh V1 thì anh V1 đang đi ra và nói “Đ.m thằng nào thích đánh nhau thì ra đây, thích thì sô lô một một”. Lúc này khoảng 00 giờ 15 phút ngày 02/7/2024, B thấy anh V1 đi qua mặt thì dùng tay trái tát vào sau đầu anh V1 một cái, D xông vào dùng chân phải đạp một phát trúng vào vùng bụng anh V1, rồi tiếp tục dùng chân tay đấm đá vào người anh V1 2-3 phát. Sau đó B, H, T2 xông vào cùng đấm đá vào người anh V1, Q chạy vào phòng trọ của N3 lấy 01 chiếc chảo kim loại đường kính miệng chảo 25cm, có chuôi bằng nhựa màu đen dài 15cm chạy ra để vụt đánh anh V1 nhưng không đánh được do anh V1 đang bị D, B, H, T2 vây đấm đánh xung quanh, còn chị L1, anh K, T6 đang can ngăn không cho nhóm của D đánh anh V1 nữa. Khi được can ra thì anh V1 bỏ chạy vào trong phòng trọ, nhóm của D có D, B, Q và T2 tiếp tục đuổi theo, khi anh V1 chạy đến trước cửa phòng trọ thì bị vấp chân trái vào gờ cửa làm chảy máu vết thương cũ ở mu bàn chân trái (do bị tai nạn từ trước), anh V1 lấy 01 đoạn tuýp sắt dài 44cm, đường kính 2,5cm cầm ở tay phải chạy ra đuổi đánh lại nhóm của D. Khi ra đến ngoài đường, anh V1 cầm tuýp sắt vụt về phía Q theo chiều từ trên xuống dưới từ phải qua trái trúng vào vùng vai phải của Q, Q cầm chiếc chảo bằng tay phải vụt một phát theo chiều từ sau về trước, từ trên xuống dưới trúng vào trán anh V1 làm chiếc chảo bị gãy cán rơi xuống nền đường, D nhặt mảnh gạch ở đường ném về phía anh V1 nhưng không trúng, sau đó anh V1 cầm tuýp tiếp tục đuổi đánh nhóm của D thì D, B, T2 nhặt gạch ở đường định ném anh V1 nhưng anh V1 bỏ chạy vào trong khu trọ thì Dự, B, T2 vứt gạch xuống đường, rồi cả nhóm bỏ đi. Hậu quả: anh V1 bị thương, rách da chảy máu ở vùng trán và mu bàn chân trái được đưa đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu, Q bị sưng đau nhẹ vùng vai phải nhưng không phải đi điều trị tại cơ sở y tế nào. Ngày 02/7/2024, anh Ma Quang V1 có đơn trình báo đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Y tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ: 01 chảo kim loại đã qua sử dụng tại mặt ngoài và mặt trong của chảo bám dính nhiều chất màu đen, miệng chảo hình tròn có đường kính là 0,24m, đường kính đáy là 0,2m, chiều cao là 0,06m, phần thành chảo bị cong vênh, biến dạng một phần theo chiều từ ngoài vào trong, phần đáy bị cong vênh, biến dạng một phần theo chiều từ dưới lên trên, tay cầm của chảo được bọc bên ngoài bằng nhựa màu đen đã bị gẫy rời một phần, phần còn lại có dạng hình trụ tròn có chiều dài 0,06m, đường kính 0,03m, bên trong lòng chảo có để 01 đoạn tay cầm bằng nhựa màu đen có chiều dài 0,14m, phần rộng nhất 0,03m, phần dày nhất 0,02m, đoạn tay cầm này khi lắp lại phù hợp, khớp với phần tay cầm còn lại gắn trên chảo. Tất cả được niêm phong ký hiệu M1; Mẫu chất màu nâu đỏ được thu bằng 03 que tăm bông được niêm phong ký hiệu M2; 01 viên vữa, 06 viên gạch.
Ngày 05/7/2024, anh Ma Quang V1 tự nguyện giao nộp 01 đoạn ống kim loại hình tròn (tuýp sắt) có chiều dài 44cm, đường kính 2,5cm anh V1 sử dụng vụt vào vai Lò Văn Quân ngày 02/7/2024.
Bệnh án ngoại khoa chấn thương của Bệnh viện Đ1 đối với anh Ma Quang V1 thể hiện: Vào viện ngày 02/7/2024. Tình trạng: Vết thương vùng trán chảy nhiều máu. Chụp cắt lớp vi tính: Vỡ xương trán, tụ khí nội sọ. Điều trị: Khâu vết thương, thuốc nội sọ. Ra viện ngày 03/7/2024, tình trạng đỡ, giảm.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 5685/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của V2 - Bộ C1 kết luận:
- - Sẹo trán trái, kích thước nhỏ: 03%;
- - 03 sẹo mu bàn chân trái, kích thước nhỏ: mỗi sẹo 01%;
- - 01 sẹo mu bàn chân trái, kích thước trung bình: 02%;
- - Vỡ lún hai bàn xương sọ xương trán trái kích thước nhỏ hơn 3cm: 21%;
- - Máu tụ ngoài màng cứng trán trái, đã điều trị, không có di chứng thần kinh, hiện còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh: 11%.
Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Ma Quang V1 tại thời điểm giám định là 35%. Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương trên cơ thể Ma Quang V1 do vật tày gây ra.
Do anh Ma Quang V1 khai vết sẹo ở mu bàn chân trái là do anh bị tai nạn từ trước, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y có công văn đề nghị Viện Khoa học hình sự - Bộ C1 làm rõ tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với các vết thương tại vùng trán của anhVinh là bao nhiêu. Tại công văn số 2398 ngày 20/8/2024 của V2 - Bộ C1 trả lời: Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Ma Quang V1 đối với các vết thương tại vùng trán là 32%.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Y thu mẫu tóc có gốc của anh Ma Quang V1 ký hiệu A1. Bản kết luận giám định số 5676/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của V2 Bộ C1 kết luận: Máu người bám dính trên mẫu ký hiệu M1 (chiếc chảo) bám dính trên mẫu ký hiệu M2 là máu của Ma Quang V1; Không phân tích được kiểu gen từ máu người bám dính trên mẫu ký hiệu M1 (đoạn cán chảo) do dấu vết chất lượng kém, lượng dấu vết ít.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã quản lý, thu giữ đoạn video liên quan đến vụ việc ngày 02/7/2024, được niêm phong ký hiệu U1. Bản kết luận giám định số 244/KT-KTHS(KTS) ngày 07/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 file video trong mẫu niêm phong ký hiệu U1 gửi giám định; Trích xuất hình ảnh của các đối tượng xuất hiện trong video trong khoảng thời gian thừ 00 giờ 17 phút 00 giây ngày 02/7/2024 đến 00 giờ 20 phút 00 giây ngày 02/7/2024 (theo đồng hồ hiển thị trên video). Có bản ảnh kèm theo.
Vật chứng vụ án:
Đối với 01 đoạn tuýp sắt dài 44cm, đường kính 2,5cm; 06 viên gạch và 01 viên vữa; 01 chiếc chảo và đoạn cán chảo hoàn lại sau giám định có liên quan đến hành vi phạm tội. Hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện Y chờ xử lý theo quy định.
Trách nhiệm dân sự: Các bị cáo D, Q, B và H đã nhờ anh Nguyễn Viết C, sinh năm 1987, trú tại thôn C, xã T, huyện Y, là bạn của Hà Văn D đến bồi thường cho anh Ma Quang V1 tổng số tiền 105.000.000 đồng. Anh V1 đã nhận đủ và không có yêu cầu đề nghị gì đối với các bị cáo, đồng thời có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Đối với anh Ma Quang V1 có hành vi cầm tuýp sắt vụt vào vai phải của Q. Do Q không đi điều trị ở cơ sở y tế nào, đồng thời không yêu cầu đề nghị gì. Ngày 31/12/2024, Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích đối vớiVinh.
Đối với chị Sa Quỳnh N3 có hành vi đạp vào cửa phòng trọ của chị L1, nhưng không gây thiệt hại gì; đồng thời chị N3 không biết Q sử dụng chiếc chảo của chị để đánh anh V1. Nên không xem xét xử lý đối với chị N3.
Đối với anh Đỗ Văn T6, Lưu Xuân K có đi cùng nhóm của Hà Văn D. Quá trình điều tra xác định mục đích T6 và K đi cùng để gặp anh Ma Quang V1 nói chuyện hòa giải chứ không tham gia đánh nhau, nên không đồng phạm với các bị can, do vậy không xử lý đối với T6 và K.
Đối với một số đối tượng khác theo các bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có căn cứ để xử lý.
Quá trình điều tra Hà Văn D, Lò Văn Q, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đăng B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Cáo trạng số 22/CT-VKS-YM ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố Hà Văn D, Lò Văn Q, Nguyễn Đăng B, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Quốc H về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo. Đề nghị HĐXX: 1. Căn cứ: Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Hà Văn D, Lò Văn Q và Nguyễn Văn T2. Thêm điểm b khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự đối với bị cáo D và Q; Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 50, Điều 54; Điều 17, Điều 58 và khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo B; Điều 92 Luật Thi hành án hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đăng B và Nguyễn Quốc H. 2. Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn D, Lò Văn Q, Nguyễn Đăng B, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Quốc H phạm tội "Cố ý gây thương tích". 3. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn Q từ 06 năm 06 tháng tù đến 06 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2024. Bị cáo Hà Văn D từ 06 năm tù đến 06 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2024. Bị cáo Nguyễn Văn T2 05 năm tù đến 05 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2024. Các bị cáo Nguyễn Đăng B và Nguyễn Quốc H mỗi bị cáo 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Đăng B tại phiên tòa nếu bị cáo Bằng không bị tạm giam về một tội phạm khác. Giao bị cáo B và H cho Uỷ ban nhân dân nơi các bị cáocư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp các lời khai của người bị hại; người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo, bản ảnh, biên bản khám nghiệm hiện trường, phiếu cấp cứu, các tài liệu bị hại điều trị tại Bệnh viện Đ1, các kết luận giám định pháp y thương tích của anh Ma Quang V1. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 02/7/2024 tại đường thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Hà Văn D, Lò Văn Q, Nguyễn Đăng B, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Quốc H đã có hành vi sử dụng chiếc chảo bằng kim loại, đường kính miệng cháo 25cm, có chuôi bằng nhựa mầu đen dài 15cm và chân tay không đánh gây thương tích cho anh Ma Quang V1. Hậu quả anh V1 bị thương ở trán với tỷ lệ 32%.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc dùng chảo bằng kim loại là nguy hiểm nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố Hà Văn D, Lò Văn Q, Nguyễn Đăng B, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Quốc H về tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo, thì thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xuất phát từ việc mâu thuẫn giữa chị N3 và anh V1, anh V1 đòi đánh chị N3 thì D bênh chị N3 dẫn đến D và anh V1 xảy ra mâu thuẫn, các bên có lời lẽ thách thức, không chọn một phương án giải quyết phù hợp, mà lựa chọn cách giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo D, Q, B và H đã tác động người thân bồi thường cho người bị hại; người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo D, Q, B và H đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo T2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm riêng của từng bị cáo: Bị cáo Nguyễn Đăng B có bố đẻ là ông Nguyễn Đăng B1 có nhiều Giấy khen về thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng đảng, vợ bị cáo có đơn đề nghị có xác nhận của chính quyền địa phương, trình bày vợ chồng lấy nhau nhiều năm nhưng chưa có con, đã chạy chữa nhiều nơi, rất mong muốn có con, hiện bị cáo B là lao động chính, bố mẹ thì đã già; Bị cáo Nguyễn Quốc H có cậu ruột là Nguyễn Văn D4 được tặng thưởng Huân chương chiến công, đơn xin được cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo B và H được hưởng thêm hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5] Về quyết định hình phạt: Bị cáo D là người khởi xướng, bị cáo Q là người người trực tiếp gây ra thương tích cho bị hại, nên hai bị cáo giữ vai trò cao nhất trong vụ án. Các bị cáo khác giữ vai trò đồng phạm. Trong vụ án này, người bị hại cũng có một phần lỗi. Bị cáo H và bị cáo B là người giúp sức trong vụ án đồng phạm, có vai trò không đáng kể trong vụ án, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, ngoài ra các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sẽ áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo H và B được cải tạo tại địa phương, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật; cần cách ly bị cáo Q, D và T2 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo D, Q, B và H đã tác động nhờ anh Nguyễn Viết C, sinh năm 1987, trú tại thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên là bạn của Hà Văn D đến bồi thường cho bị hại anh Ma Quang V1 tổng số tiền 105.000.000 đồng, cụ thể: Dự 55 triệu đồng, B 20 triệu đồng, Q và Hiệu mỗi bị cáo nồi thường 15 triệu đồng. Anh V1 đã nhận đủ và không có yêu cầu đề nghị gì đối với các bị cáo bồi thường thêm. Xét thấy sự thỏa thuận của các bên là tự nguyện, không trái đạo đức và quy định của pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận, không đặt ra giải quyết về phần trách nhiệm dân sự.
[7] Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 tuýp sắt dài 44cm, 06 viên gạch, 01 viên vữa; 01 chiếc chảo và 01 cán chảo xác định vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu huỷ.
[8] Đối với anh Ma Quang V1 có hành vi cầm tuýp sắt vụt vào vai phải của bị cáo Q. Do Q không đi điều trị ở cơ sở y tế nào, đồng thời không yêu cầu đề nghị gì. Ngày 31/12/2024, Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với V1 về hành vi Cố ý gây thương tích đối với V1 là đúng quy định của pháp luật.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án; Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ:
- - Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Hà Văn D, Lò Văn Q và Nguyễn Văn T2. Thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D và Q.
- - Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 50, Điều 54; Điều 17, Điều 58 và khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đăng B và Nguyễn Quốc H. Thêm khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo B.
- Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn D, Lò Văn Q, Nguyễn Đăng B, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Quốc H phạm tội "Cố ý gây thương tích".
- Xử phạt:
- - Bị cáo Lò Văn Q 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2024.
- - Bị cáo Hà Văn D 06 (Sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2024.
- - Bị cáo Nguyễn Văn T2 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2024.
- - Các bị cáo Nguyễn Đăng B và Nguyễn Quốc H mỗi bị cáo 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Đăng B tại phiên tòa nếu bị cáo Bằng không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Nguyễn Đăng B và Nguyễn Quốc H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo Nguyễn Đăng B và Nguyễn Quốc H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
- Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 07 mảnh gạch, vữa; 01 đoạn ống kim loại hình tròn (Tuýp sắt) có chiều dài 44cm, đường kính 2,5cm và 01 niêm phong ký hiệu 5676/KL-KTHS chứa 01 chiếc chảo và 01 đoạn cán chảo hoàn lại sau giám định.
(Vật chứng trên đã chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Y, tỉnh Hưng Yên theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/02/2025).
- Về án phí: Các bị cáo Hà Văn D, Lò Văn Q, Nguyễn Đăng B, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Quốc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo của người có mặt tại phiên tòa tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, thời hạn kháng cáo của người vắng mặt tại phiên tòa tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Hương |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN về cố ý gây thương tích (criminal case)
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
