TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày: 26-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Thanh Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân và bà Cao Thị Thúy.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quảng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 190/2024/TLST - HS ngày 02tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 25/2025/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn T. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1988, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn:12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công H, sinh năm 1967 và bà Thái Thị T1, sinh năm 1964; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ: Mai thị M; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 13/6/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 22 (hai mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại bản án số 71/2017/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2018, thi hành xong án phí HSST 200.000 đồng ngày 13/6/2017.
- Ngày 12/3/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại bản án số 18/2019/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/10/2021, thi hành xong án phí ngày 12/3/2019.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2024 đến ngày 25/11/2024 thì được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Cao Xuân V. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 26 tháng 6 năm 1981, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Xuân T2, sinh năm 1952 và bà Cao Thị N, sinh năm 1956; anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị T3; con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiềnsự: Không;
Nhân thân:
Ngày 25/3/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 (Mười lăm) tháng về tội “Cưỡng đoạt tài sản” tại bản án số 23/2003/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong thời gian thử thách của án treo, thi hành xong án phí HSST 50.000 đồng và truy thu 5.000 đồng vào ngày 23/5/2003.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 21/8/2024 thì được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Võ Khắc N1. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 25 tháng 02 năm 1986, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: K, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Khắc Đ (Đã chết) và bà Ngô Thị X, sinh năm 1954; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; vợ: Trần Thị P; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 21/8/2024 thì được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua các mối quan hệ, Nguyễn Văn T biết được Cao Việt H1 (sinh năm 1989, trú tại xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) thường xuyên chạy xe Container đi sang nước Lào lấy pháo nổ về buôn bán nên T đặt mua 30 khối pháo loại 36 quả với giá 500.000 đồng/khối với mục đích để bán kiếm lời. Khoảng đầu tháng 7/2024, H1 gọi điện cho T và nói T đến sau nhà văn hóa xóm C, xã D để lấy pháo. Khi T đi đến khu vực sau nhà văn hóa xóm C thì có một người đàn ông (T không rõ là ai, tên, tuổi, địa chỉ, không nhìn rõ đặc điểm) đi xe máy đến và bỏ lên xe máy T 01 (một) thùng cát tông bên trong chứa 10 (Mười) khối pháo loại 36 quả và 01 (Một) bì xác rắn chứa 05 (Năm) khối pháo loại 36 quả. Sau khi nhận được số pháo trên T mang về phòng chứa rơm trong trang trại của mình ở xóm D, xã D cất dấu dưới lớp rơm. Đến ngày 06/8/2024, Cao Xuân V hỏi mua của T 05 (Năm) khối pháo loại 36 quả với giá 650.000 đồng/khối nên T đồng ý rồi T đưa pháo đến cửa hàng xe đạp điện Đức V1 phía đối diện nhà của T để giao cho V1. V1 đưa cho T số tiền 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Võ Khắc N1 là người quen biết của V1 đến nhà V1 chơi, N1 hỏi xin một số pháo để về nổ vào dịp Tết thì V1 đồng ý nên V1 lấy 05 (Năm) khối pháo loại 36 quả vừa mới mua được từ T cho N1. Sau đó N1 mang số pháo trên về nhà cất giấu ở phía trên nóc của nhà tắm.
Ngày 11/8/2024, Cao Xuân V đến Công an huyện D để tự thú, thừa nhận đã mua 05 (Năm) khối pháo loại 36 quả của Nguyễn Văn T với giá 3.250.000 đồng, sau đó đã cho Võ Khắc N1.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T, thu giữ 01 (Một) thùng cát tông bên trong chứa 10 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15,5 x 15 x 15) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in chữ nước ngoài, nghi là pháo nổ.
Ngày 12/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Võ Khắc N1, thu giữ 01 (Một) bì xác rắn bên trong có chứa 05 (Năm) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15,5 x 15 x 15) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in chữ nước ngoài, nghi là pháo nổ.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 12/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D xác định: 10 (Mười) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15,5x15x15) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, nghi là pháo nổ thu giữ khi khám xét chỗ làm việc của Nguyễn Văn T có tổng trọng lượng là 14,354 kg (Mười bốn phẩy ba trăm năm mươi bốn kilogam).
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 13/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D xác định: 05 (Năm) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15,5x15x15) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, nghi là pháo nổ thu giữ khi khám xét chỗ ở của Võ Khắc N1 có tổng trọng lượng là 7,307 kg (Bảy phẩy ba trăm linh bảy kilogam).
Tại bản kết luận giám định số 339/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 16/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn T gửi giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ.
Tại bản kết luận giám định số 341/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 21/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu vật thu giữ của Võ Khắc N1 gửi giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ.
Tại bản Cáo trạng số: 208/CT-VKS-DC ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Cao Xuân V và Võ Khắc N1 về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn T, Cao Xuân V và Võ Khắc N1 đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 14 tháng đến 16 tháng tù.
Tuyên bố bị cáo Cao Xuân V và Võ Khắc N1 phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cao Xuân V từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Khắc N1 từ 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) đến 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng)
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về biện pháp tư pháp và vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị;
Truy thu từ bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 3.250.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy số pháo còn lại sau khi đã gửi đi giám định thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Võ Khắc N1.
Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, số Imeil: 867327061113923, Imei2: 867327061113931, vỏ màu đen, bên trong gắn sim số 0353.302.502, đã qua sử dụng, do Nguyễn Văn T tự nguyên giao nộp.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi thực hiện của mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và biên bản khám xét; phù hợp với nội dung của Cáo trạng đã quy kết; phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng tháng 7 năm 2024, tại xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn T mua của Cao Xuân H2 15 (Mười lăm) khối pháo nổ có khối lượng 21,661 kg (Hai mươi mốt phẩy sáu trăm sáu mươi mốt kilogam) với giá 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) mang về nhà cất dấu để bán kiếm lời.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/8/2024, Nguyễn Văn T bán cho Cao Xuân V 05 (Năm) khối pháo nổ có khối lượng 7,307 kg (Bảy phẩy ba trăm linh bảy kilogam) với giá 3.250.000 đồng để sử dụng.
Đến khoảng 20 giờ ngày 06/8/2024, Cao Xuân V cho Võ Khắc N1 05 (Năm) khối pháo nổ mà V mới mua của Nguyễn Văn T, T mang về cất dấu để đốt vào dịp Tết.
Ngày 11/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Nguyễn Văn T; qua khám xét thu giữ 10 (mười) khối pháo nổ có khối lượng 14,354 kg (Mười bốn phẩy ba trăm năm mươi bốn kilogam).
Ngày 12/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Khắc N1; qua khám xét thu giữ 05 (Năm) khối pháo nổ có khối lượng 7,307 kg (Bảy phẩy ba trăm linh bảy kilogam).
Tổng số pháo nổ thu giữ của T và N1 qua khám xét khẩn cấp là 21,661kg (Hai mươi mốt phẩy sáu trăm sáu mươi mốt kilogam).
Như vậy, hành vi thực hiện của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Buôn bán hàng cấm", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Hành vi thực hiện của các bị cáo Cao Xuân V và Võ Khắc N1 đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ hàng cấm", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi thực hiện của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội lớn; hành vi thực hiện của bị cáo Cao Xuân V và Võ Khắc N1 là nguy hiểm cho xã hội không lớn; các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự quản lý hàng cấm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Trong thời gian qua hoạt động buôn bán, tàng trữ hàng cấm là pháo nổ xẩy ra nhiều, gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình trật tự an toàn xã hội; các cơ quan chức năng đã ra sức tuyên truyền, giáo dục nhằm ngăn chặn tội phạm này. Các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, đủ tuổi chịu tránh nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, các bị cáo nhận thức rõ hành vi thực hiện của mình là vi phạm pháp luật, không làm chủ được bản thân nên đã thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật. Vì vậy, cần phải lên một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Võ Khắc N1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình có bố ruột có công với Cách mạng, được Chủ tịch nước thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì. Bị cáo Cao Xuân V sau khi thực hiện hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi thực hiện của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến Cơ quan điều tra để tự thú. Bị cáo Nguyễn Văn T có cả ông nội, ông ngoại và bà ngoại có công với Cách mạng, ông nội được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, ông ngoại được Chủ tịch tỉnh tặng Bằng khen, bà ngoại tham gia dân quân hỏa tuyến; quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo tích cực tham gia phong trào thiền nguyện vì cộng đồng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo Võ Khắc N1. Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo Cao Xuân V. Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn T, để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân xấu, đã 02 lần bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo không tiếp tục lấy bài học cho bản thân, chỉ vì hám lợi mà dẫn đến hành vi phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục, đồng thời ngăn ngừa tội phạm mới và răn đe phòng ngừa chung.
Bị cáo Cao Xuân V có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội. Vì vậy, chưa cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa; đồng thời tạo điều kiện để bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
Bị cáo Võ Khắc N1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng, thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, thứ yếu. Vì vậy, chỉ cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh điều kiện kinh tế của các bị cáo Nguyễn Văn T và Cao Xuân V cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thì các bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập thấp, còn phải nuôi con nhỏ, không có tài sản riêng; bị cáo Võ Khắc N1 áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Về nội dung liên quan khác:
Đối với Cao Việt H1 là người bán pháo cho Nguyễn Văn T (theo lời khai của T), qua xác minh thì H1 không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác minh rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
[7]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
[7.1]. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Văn T bán cho Cao Xuân V 05 khối pháo nổ với giá 3.250.000 đồng. Vì vậy, cần truy thu từ bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 3.250.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
[7.2]. Về vật chứng vụ án:
- Đối với 10 (Mười) khối pháo loại 36 quả, kích thước (15,5x15x15) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, thu giữ khi khám xét chỗ làm việc của Nguyễn Văn T có tổng khối lượng là 14,354 kg. Cơ quan điều tra đã lấy 03 (Ba) khối có tổng khối lượng là 4,253 kg đi trưng cầu giám định. Hiện còn 07 (Bảy) khối có tổng khối lượng là 10,101 kg và 05 (Năm) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15,5x15x15) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, nghi là pháo nổ thu giữ khi khám xét chỗ ở của Võ Khắc N1 có tổng khối lượng là 7,307 kg. Cơ quan điều tra đã lấy 03 (Ba) khối có tổng khối lượng là 4,338 kg để trưng cầu giám định. Hiện còn 02 (Hai) khối có tổng khối lượng là 2,969 kg. Là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, số Imeil: 867327061113923, Imei2: 867327061113931, vỏ màu đen, bên trong gắn sim số 0353.302.502, đã qua sử dụng, do Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp. Đây là chiếc điện thoại mà bị cáo T sử dụng để liên lạc mua pháo nổ với mục đích để bản kiếm lời, là phương tiện để thực hiện hành vi phạm tôi nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Tuyên bố bị cáo Cao Xuân V và bị cáo Võ Khắc N1 phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2024 đến ngày 25/11/2024.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191, điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Cao Xuân V 08 (T4) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (Ngày 26/02/2025).
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Võ Khắc N1 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng).
Giao bị cáo Cao Xuân V cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo, thông báo kết quả chấp hành án của bị cáo với Ủy ban nhân dân xã (phường) khi có yêu cầu. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Căn cứ Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Về biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) từ bị cáo Nguyễn Văn T để nộp ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy 07 (Bảy) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15,5x15x15) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, nghi là pháo nổ có tổng khối lượng là 10,101 kg (Mười phẩy một trăm linh một kilogam) và giấy niêm phong ban đầu được niêm phong trong 01 (Một) thùng bìa cát tông ban đầu theo đúng quy định, được dán kín, xung quanh các mép dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký của thành phần tham gia và đối tượng Nguyễn Văn T, cán bộ tham gia niêm phong và hình của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15,5x15x15) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, nghi là pháo nổ có tổng khối lượng là 2,969 kg (Hai phẩy chín trăm sáu mươi chín kilogam) và giấy niêm phong ban đầu được niêm phong trong 01 (Một) bì xác rắn màu trắng được buộc kín, trên nút buộc có dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký của thành phần tham gia và đối tượng Cao Xuân V, Võ Khắc N1, cán bộ tham gia niêm phong và hình của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Công an huyện D, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 140/PNK-ĐTHS ngày 18/9/2024 của Công an huyện D, tỉnh Nghệ An.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, số Imeil: 867327061113923, Imei2: 867327061113931, vỏ màu đen, bên trong gắn sim số: 0353.302.502, đã qua sử dụng, do Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp.
Vật chứng hiện đang bảo quản tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu và phiếu nhập kho ngày 02/01/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu.
5. Về án phí:
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Nguyễn Văn T, Cao Xuân V và Võ Khắc N1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
- Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thanh Minh |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An về hình sự (buôn bán hàng cấm và tàng trữ hàng cấm)
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm và Tàng trữ hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thuận và đp
