Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày 19-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Kim Thoa
  • Bà Phạm Thị Thao

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hằng và ông Trần Thành Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần - Trại tạm giam Công an thành phố H; Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2025/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng Đ1, sinh ngày 21 tháng 11 năm 1994, tại Hải Phòng; nơi ĐKTT: Số A đường T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số H đường Q, tổ dân phố T, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng Q (đã chết) và bà Đào Thị Ngọc H; có vợ là Lê Thị L và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ ngày 08/5/2024 đến ngày 13/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Nguyễn Xuân H1, sinh năm 2004; nơi cư trú: số A H, H, Hồ N, Hải Phòng; vắng mặt.
  • Chị Lê Thị L, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số H đường Q, tổ dân phố T, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: Ông Vũ Trọng K - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/5/2024, tại khu vực trước của số nhà I L, Máy Chai, Ngô Q1, Hải Phòng, Công an Quận N phát hiện bắt quả tang Nguyễn Xuân H1 (sinh năm: 2004, Nơi cư trú: số A H, H, Hồ N, Hải Phòng) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ: 01 điếu cuộn đang cháy dở dài khoảng 04cm đường kính khoảng 0,3cm bên trong chứa thực vật khô vụn dưới chân chỗ H1 đang đứng (mẫu QT); 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu trắng có gắn sim của H1 và 01 xe mô tô Jupiter đã qua sử dụng mang BKS 15B1-540.16. Đứng cạnh Hữu lúc này còn có Trần Quý D (sinh năm: 2004, Nơi cư trú: số E T, M, N, Hải Phòng) là bạn của H1. Tại cơ quan điều tra, H1 khai nguồn gốc điếu ma túy là do H1 mua của Nguyễn Hồng Đ1.

Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Hồng Đ1 và khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ1, thu giữ:

  • - T trong người Nguyễn Hồng Đ1: 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 08x13cm bên trong chứa: 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 04x07cm trong chứa 05 viên nén màu xám hình khiên, một mặt in hình kẻ sọc (mẫu 2) và 04 túi nilon màu trắng kích thước mỗi gói khoảng 2,5x2,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu 3, mẫu 4, mẫu 5, mẫu 6); 03 điện thoại gồm: 01 điện thoại Nokia màu đen trắng đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone14 Promax bọc nilon màu xám; 01 điện thoại Iphone 11 promax màu vàng;
  • - 01 xe máy SH màu trắng BKS 15B3-479.60 bên trong hốc xe có 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 08x13cm bên trong chứa 20 điếu cuộn màu trắng đặc điểm mỗi điếu dài khoảng 07cm đường kính khoảng 0,3cm bên trong các điếu đều chứa thực vật khô (mẫu 1);
  • - T tại ngăn kéo tủ giày trước cửa phòng khách 01 túi nilon kích thước khoảng 04x07cm bên trong chứa thảo mộc khô (mẫu KX).
  • - Thu giữ trên nóc tủ quần áo tại phòng ngủ 05 hộp giấy có nhãn hiệu Rollies và 01 thanh kim loại dài khoảng 22cm.

Xét nghiệm nước tiểu của đối tượng Nguyễn Xuân H1 cho kết quả dương tính với test thử chất ma túy THC (cần sa); Nguyễn Hồng Đ1 cho kết quả dương tính với test thử chất ma túy Ketamine và THC (cần sa); Trần Quý D cho kết quả âm tính với test thử chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 556/KL-KTHS(MT) ngày 13 tháng 05 năm 2024 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận:

  • - Thực vật khô, vụn của mẫu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2 gam, loại: Cần sa (hoa, lá cây Cần sa).
  • - Thực vật khô, vụn của mẫu 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 5,44 gam, loại: Cần sa (hoa, lá cây Cần sa).
  • - Chất bột của mẫu 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,60 gam, loại: MDMA.
  • - Tinh thể màu trắng của mẫu 3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,00 gam, là loại: Ketamine; Tinh thể màu trắng của mẫu 4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,84 gam, là loại: Ketamine; Tinh thể màu trắng của mẫu 5 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,43 gam, là loại: Ketamine; Tinh thể màu trắng của mẫu 6 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,43 gam, là loại: Ketamine.
  • - Thực vật khô, vụn của mẫu KX gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,17 gam, loại: Cần sa (hoa, lá cây Cần sa).

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Đ1 khai nhận: Khoảng tháng 4/2024, Đ1 gặp và mua của một đối tượng nam giới không quen tại khu vực cầu N, L, Hải Phòng cần sa về cuộn tự sử dụng (Đ1 không nhớ số tiền mua ma túy cụ thể là bao nhiêu). Biết Đ1 có điếu cuộn cần sa nên khoảng cuối tháng 4 năm 2024, tại khu vực ngã 4 P, H1 hỏi mua và được Đ1 bán cho 01 điếu với giá 100.000 đồng. Sau khi bán cần sa cho H1 thành công và thấy có lãi nên Đ1 đã nảy sinh ý định mua cần sa về cuộn thành các điếu bán lẻ kiếm lời. Khoảng đầu tháng 5/2024, Đ1 tìm hiểu qua ứng dụng Telegram trên mạng xã hội và biết tài khoản T1 là “Jonh Wick” có bán ma túy cần sa nên đã liên lạc và chuyển tiền vào tài khoản số [...] tại ngân hàng V do “Jonh Wick” cung cấp 10.000.000 đồng mua được 50 gam. Mua được ma túy, Đ1 cắt nhỏ, cuộn được khoảng 200 điếu và bán lại cho khách với giá 100.000 đồng/điếu. Tối ngày 07/5/2024, khi Đ1 đang ở nhà thì nhận được điện thoại của H1 hỏi mua 01 điếu cần sa. Đại đồng ý và cầm ma túy đến khu vực ngã tư P bán cho H1 với giá 100.000 đồng/điếu. Mua được ma túy, H1 điều khiển xe chở D đến ngõ D L, Máy C để H1 sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang. Bản thân D khi đi với H1, H1 không nói với D việc H1 đi mua ma túy của Đ1 về sử dụng nên D không biết.

Bên cạnh đó Đ1 còn khai: Ngoài bán cho H1, Đ1 còn bán cho nhiều người nhưng không biết rõ tên và địa chỉ; Số ma túy thuốc lắc, Ketamine bị thu giữ là do Đ1 mua của một người đàn ông không quen biết tên S với giá 10.000.000 đồng được 01 gói nilon chứa khoảng 10 gam Ketamine cùng 05 viên thuốc lắc. Đ1 mang

về nhà chia nhỏ Ketamine đóng ra 10 túi nilon dự định bán với giá 1.100.000đồng/túi, ma túy thuốc lắc thì Đ1 dự định bán với giá 400.000 đồng/viên.

Kiểm tra chi tiết và trưng cầu giám định điện thoại của Đ1 và H1 phát hiện điện thoại Iphone 14 Pro max của H1 và N đen trắng của Đ1 có tài liệu liên quan đến việc giao dịch mua bán ma túy giữa H1 và Đ1. Ngoài ra, điện thoại Iphone 11 màu vàng gold thể hiện việc Đ1 mua ma túy cần sa qua ứng dụng telegram. Còn điện thoại Iphone 14 pro max màu xám không liên quan đến giao dịch mua bán ma túy.

Xác minh tài khoản số [...] tại ngân hàng V của người tên Triệu Dào K1 (sinh ngày: 22/10/2023, CCCD số [...] nơi cư trú: xóm B, T, N, tỉnh Cao Bằng). Anh K1 khai nhận: Khoảng tháng 02/2024 khi đang làm thuê tại huyện Q, tỉnh Bắc Ninh, K1 đã mở tài khoản tại ngân hàng V nhưng K1 không nhớ số tài khoản. Sau đó K1 đã bán tài khoản ngân hàng trên cho một người không quen biết với giá 300.000 đồng vào khoảng đầu tháng 03/2024 (bút lục 122). Tiến hành cho Đ1 nhận dạng Kiêm thì Đ1 không nhận dạng được.

Xác minh số điện thoại 0395.221.xxx giao dịch bán ma túy Ketamine, MDMA cho Đ1, chủ thuê bao là Nguyễn Tuấn A, (sinh ngày: 10/04/1982; CCCD số [...] Địa chỉ: M, Đ, Đ, Hà Nội). Triệu tập lên làm việc, Tuấn A khai chưa từng sử dụng số điện thoại 0395.221.xxx bao giờ, không đứng tên đăng ký số điện thoại trên. Đồng thời, Tuấn A không có quan hệ quen biết với Đ1 (bút lục 99, 100). Tiến hành cho Đ1 nhận dạng Tuấn A thì Đ1 không nhận dạng được.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

  • - Xe mô tô nhãn hiệu Jupiter màu xanh có BKS: 15B1- 540.16 có số khung, số máy nguyên thủy, không bị tẩy xóa sửa chữa, tên chủ xe là Khoa Việt Đ2 (sinh năm 1985, địa chỉ số A P, V, N, Hải Phòng), chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Xuân H2 (sinh năm: 1977, nơi cư trú: phường H, Quận H, thành phố Hải Phòng) là bố của H1. Ngày 07/5/2024, H1 mượn xe máy đi có việc, anh H2 không biết việc H1 sử dụng xe máy đi mua ma túy. Ngày 02/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an Quận N ra Quyết định xử lý vật chứng số 3345/QĐ-XLVC ngày 02/12/2024 trả lại xe cho anh H2.
  • - Chuyển Chi cục thi hành án dân sự Quận quản lý: 01(một) bì giấy có dấu niêm phong số là 556MT/PC09 bên trong chứa các chất ma túy còn lại sau giám định gồm: 0,07 gam thực vật (cần sa) mẫu QT; 5,05 gam thực vật (cần sa) mẫu 1; 1,55 gam viên nén (MDMA) mẫu 2; 0,82 gam tinh thể (Ketamine) mẫu 3; 0,66 gam tinh thể (Ketamine) mẫu 4; 0,32 gam tinh thể (Ketamine) mẫu 5; 0,33 gam tinh thể mẫu 6; 0,07 gam (cần sa) mẫu KX cùng toàn bộ vỏ bao gói; 01 xe mô tô mô tô Honda SH 150 màu trắng có BKS 15B3-479.60 có số khung, số máy không bị tẩy xóa, chủ xe là Nguyễn Hồng Đ1; 04 điện thoại di động đã qua sử dụng gồm: 01 điện thoại N1 màu đen trắng đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone14 Promax bọc nilon màu xám và 01 điện thoại Iphone 11 promax màu vàng thu của Đ1; 01 điện Iphone 14 Promax màu trắng thu của H1; 05 hộp giấy có nhãn hiệu Rollies; 01 thanh kim loại dài khoảng 22cm.

Tại Bản Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ nội dung vụ án như cáo trạng đã nêu. Đ1 xác nhận xe SH Đại đứng tên chỉ là tài sản do chị L bỏ tiền mua. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị L khai nhận xe mô tô Honda SH 150 màu trắng có BKS 15B3-479.60 khi mua là tiền của chị, lúc đó hai vợ chồng mới kết hôn chị không phải là người địa phương nên để Đ1 đứng tên đăng ký xe. Chị không biết việc Đ1 dùng xe đi bán ma tuý và đề nghị xin lại xe.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hồng Đ1 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không đề nghị hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy 01(một) bì giấy có dấu niêm phong số là 556MT/PC09 bên trong chứa các chất ma túy còn lại sau giám định gồm: 0,07 gam thực vật (cần sa) mẫu QT; 5,05 gam thực vật (cần sa) mẫu 1; 1,55 gam viên nén (MDMA) mẫu 2; 0,82 gam tinh thể (Ketamine) mẫu 3; 0,66 gam tinh thể (Ketamine) mẫu 4; 0,32 gam tinh thể (Ketamine) mẫu 5; 0,33 gam tinh thể mẫu 6; 0,07 gam (cần sa) mẫu KX cùng toàn bộ vỏ bao gói. 05 hộp giấy có nhãn hiệu Rollies; 01 thanh kim loại dài khoảng 22cm
  • Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại Nokia màu đen trắng đã qua sử dụng và 01 điện thoại Iphone 11 promax màu vàng thu của Đ1; 01 điện Iphone 14 Promax màu trắng thu của H1.
  • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone14 Promax bọc nilon màu xám.
  • Trả lại cho chị Lê Thị L 01 xe mô tô Honda SH 150 màu trắng có BKS 15B3-479.60 có số khung, số máy không bị tẩy xóa, chủ xe là Nguyễn Hồng Đ1.

- Buộc bị cáo phải nộp lại 200.000 đồng là số tiền thu lời bất chính do bán ma túy trái phép.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về tội danh

[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Hồng Đ1 tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng cuối tháng 4/2024 và ngày 07/5/2024, Nguyễn Hồng Đ1 có hành vi 02 lần bán trái phép ma túy Cần sa cho Nguyễn Xuân H1. Ngoài ra Đ1 còn cất giấu các loại ma túy Cần sa; Ketamine; MDMA với mục đích bán kiếm lời. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hồng Đ1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo đã hai lần bán cho H1 mỗi lần 01 điếu cần sa nên phải chịu tình tiết định khung là phạm tội “02 lần trở lên”; cất giấu 5,61 gam ma túy Cần sa; 2,7 gam Ketamine; 2,6 gam MDMA với mục đích bán kiếm lời. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 6,15 gam ma túy cần sa; 2,7 gam Ketamine; 2,6 gam MDMA. Tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng ma túy Cần sa, Ketamine, MDMA so với mức tối thiểu từng chất quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là: ((6,15: 10.000)+ (2,7 : 20) + (2,6 : 5)) x100% = 65,56% thuộc trường hợp dưới 100% nên bị cáo phạm tội theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ:

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bà nội là người có công với cách mạng nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

- Về hình phạt:

[7] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe của pháp luật.

[8] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo là người không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

[9] Đối với 01(một) bì giấy có dấu niêm phong số là 556MT/PC09 bên trong chứa các chất ma túy còn lại sau giám định gồm: 0,07 gam thực vật (cần sa) mẫu QT; 5,05 gam thực vật (cần sa) mẫu 1; 1,55 gam viên nén (MDMA) mẫu 2; 0,82 gam tinh thể (Ketamine) mẫu 3; 0,66 gam tinh thể (Ketamine) mẫu 4; 0,32 gam tinh thể (Ketamine) mẫu 5; 0,33 gam tinh thể mẫu 6; 0,07 gam (cần sa) mẫu KX cùng toàn bộ vỏ bao gói. 05 hộp giấy có nhãn hiệu Rollies; 01 thanh kim loại dài khoảng 22cm. Đây là những vật bị cáo sử dụng cho việc sử dụng trái phép chất ma túy và lượng ma túy mà bị cáo cất giữ để bán trái phép cho người khác, là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với 01 điện thoại Nokia màu đen trắng đã qua sử dụng và 01 điện thoại Iphone 11 promax màu vàng thu của Đ1; 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu trắng thu của H1 là phương tiện bị cáo và H1 liên lạc mua bán ma tuý nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[11] Đối với 01 điện thoại Iphone14 Promax bọc nilon màu xám của bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[12] Đối với 01 xe mô tô Honda SH 150 màu trắng có BKS 15B3-479.60 có số khung, số máy không bị tẩy xóa, đăng ký xe là Nguyễn Hồng Đ1. Xác định đây là tài sản chung của bị cáo và vợ là chị Lê Thị L. Chị L không biết bị cáo dùng xe đi bán ma tuý nên cần trả lại cho chị L sử dụng.

[13] Số tiền 200.000 đồng bị cáo bán ma tuý cho H1 là số tiền thu lời bất chính do bán ma túy trái phép nên buộc bị cáo phải nộp lại 200.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

[14] Đối với Nguyễn Xuân H1 có hành vi tàng trữ 0,2 gam ma túy Cần sa mục đích để sử dụng cho bản thân, nhân thân chưa có tiền án tiền sự nên Công an Quận N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[15] Đối với Trần Quý D không biết việc H1 mua ma túy của Đ1, không tham gia vào việc sử dụng ma túy với H1 nên không xem xét xử lý

[16] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đ1 đến nay chưa xác định được căn cước lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.

[17] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng Đ1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[18] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng Đ1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Hồng Đ1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/5/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy có dấu niêm phong số là 556MT/PC09 bên trong chứa các chất ma túy còn lại sau giám định gồm: 0,07 gam ma tuý cần sa mẫu QT; 5,05 gam ma tuý cần sa mẫu 1; 1,55 gam viên nén ma tuý MDMA mẫu 2; 0,82 gam ma tuý Ketamine mẫu 3; 0,66 gam ma tuý Ketamine mẫu 4; 0,32 gam ma tuý Ketamine mẫu 5; 0,33 gam ma tuý ketamin mẫu 6; 0,07 gam ma tuý cần sa mẫu KX cùng toàn bộ vỏ bao gói; 05 hộp giấy có nhãn hiệu Rollies; 01 thanh kim loại dài khoảng 22cm.
  • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Nokia màu đen trắng đã qua sử dụng và 01 điện thoại Iphone 11 promax màu vàng thu của Nguyễn Hồng Đ1; 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu trắng thu của Nguyễn Xuân H1.
  • + Trả lại cho Nguyễn Hồng Đ1 01 điện thoại Iphone14 Promax bọc nilon màu xám.
  • + Trả lại cho chị Lê Thị L 01 xe mô tô Honda SH 150 màu trắng có BKS 15B3-479.60.

Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2025 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền .

- Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7. 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tp Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp tp Hải Phòng;
  • - VKSND tp Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan điều tra, Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Cường

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger