Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/DS- PT.

Ngày: 18-02-2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuỷ, Bà Nguyễn Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỷ Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Vũ Thị Năm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 227/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” do bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/KDTM-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (B);

Địa chỉ: T, A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T, Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1 – Chức vụ: Giám đốc ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N2; Vắng mặt.

Người được ủy quyền lại:

  1. Ông Dương Minh T2 – Trưởng phòng khách hàng cá nhân - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N2 (có mặt)
  2. Ông Lê Anh T3 – Trưởng phòng quản lý rủi ro - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N2 (vắng mặt).
  3. Ông Lưu Đức D- Giám đốc phòng giao dịch huyện P - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N2 (có mặt)
  4. Ông Đặng Quang M, bà Đinh Trần Thanh X – Chuyên viên Ngân hàng TMCP Đ ( ông M vắng mặt; bà X có mặt)

2. Bị đơn: Ông Phạm Văn T4, sinh năm 1982(có mặt).

Nơi đăng ký HKTT: Tổ 26, phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên;

Nơi ở: Xóm 10, xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Phạm Văn T4: Luật sư Nguyễn Đức N và luật sư Vũ Văn C –Công ty L – Đoàn Luật sư thành phố H (Ông C có mặt, ông N vắng mặt);

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phạm Thúy N1 sinh năm 1986; (vắng mặt) Địa chỉ: Xóm A, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Ông Phạm Minh T5, sinh năm 1977; (có mặt) Địa chỉ: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Ông Phạm Văn D1, sinh năm 1989; (vắng mặt) Địa chỉ: Tổ B phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
  4. Bà Dương Thị T6, sinh năm 1958; ông Nông An T7, sinh năm 1950; (Bà T6, ông T7 đều vắng mặt) Cùng địa chỉ: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên;

5. Người kháng cáo: Ông Phạm Văn T4 là bị đơn và ông Phạm Minh T5 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:

Ông Phạm Văn T4 và Ngân hàng TMCP Đ- Chi nhánh N2 đã cùng ký kết Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ, với nội dung cụ thể như sau:

1. Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2020/9618596/HĐTD ký ngày 13/11/2020 giữa ông Phạm Văn T4 với B, kèm theo các hợp đồng tín dụng cụ thể;

Mục đích: Bổ sung vốn lưu động, bảo lãnh.

Lãi suất: Được xác định theo từng hợp đồng tín dụng cụ thể.

Số hợp đồng Ngày giải ngân Số tiền (đồng) Lãi suất cho vay trong hạn tại ngày giải ngân Thời hạn vay
01.04/2020/9618596/HDTD 22/12/2020 1.300.000.000 8,5%/năm 08 tháng
01.05/2020/9618596/HĐTD 25/12/2020 1.000.000.000 8,5%/năm 08 tháng
01.06/2020/9618596/HDTD 07/01/2021 150.000.000 8,5%/năm 08 tháng
01.07/2020/9618596/HĐTD 25/03/2021 132.000.000 8,5%/năm 08 tháng
01.08/2020/9618596/HDTD 29/03/2021 1.140.000.000 8,5%/năm 08 tháng
01.09/2020/9618596/HĐTD 30/03/2021 1.000.000.000 8,5%/năm 08 tháng
01.10/2020/9618596/HĐTD 20/04/2021 1.525.000.000 8,5%/năm 08 tháng
01.11/2020/9618596/HĐTD 26/04/2021 128.000.000 8,5%/năm 08 tháng
01.12/2020/9618596/HDTD 24/08/2021 1.900.000.000 6,0 %/năm 08 tháng
01.13/2020/9618596/HDTD 24/08/2021 1.600.000.000 6,0 %/năm 08 tháng
01.14/2020/9618596/HĐTD 25/08/2021 500.000.000 6,0 %/năm 08 tháng
Tổng cộng 10.375.000.000

2. Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9618596/HĐTD ký ngày 13/04/2018: Số tiền vay: 2.800.000.000đ, Mục đích: Phục vụ nhu cầu đời sống, thời hạn vay: 120 tháng, lãi suất: 9,0%/năm trong 12 tháng, kể từ ngày giải ngân lần đầu và sau đó được điều chỉnh 06 tháng/lần; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất quá hạn, kể từ thời điểm phát sinh quá hạn

Để đảm bảo cho các Hợp đồng tín dụng nêu trên, Ông Phạm Văn T4 và các bên thứ ba (ông Phạm Minh T5 và Phạm Văn D1) đã thế chấp tài sản là các Bất động sản gồm có:

  1. Diện tích 169 m² tại thửa đất số 209, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ tại xã Q, TP T, tỉnh Thái NguyênGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 945135, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH04657/NCN, số QĐ 1131/UBND do U cấp ngày 04/02/2015 mang tên ông Phạm Văn T4 và bà Phạm Thúy N1. Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/9618596/HĐBĐ ký ngày 12/04/2018;
  2. Diện tích 47 m² tại thửa đất số 299, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái NguyênGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 913755, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 194/NCN do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/03/2017 mang tên Phạm Minh T5. Hợp đồng thế chấp bất động sản số 05/2018/9618596/HĐTC ký ngày 13/09/2018;
  3. Diện tích 48 m² tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái NguyênGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 913756; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 195/NCN do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/03/2017 mang tên Phạm Minh T5. Hợp đồng thế chấp bất động sản số 06/2018/9618596/HĐTC ký ngày 13/09/2018;
  4. Diện tích 47 m² tại thửa đất số 298, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái NguyênGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 913754; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 193/NCN do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/03/2017 mang tên Phạm Minh T5. Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 09/2018/9618596/HĐTC ký ngày 04/10/2018;
  5. Diện tích 294,7 m² tại thửa đất số 43,TBĐ 27, địa chỉ tại Phường P TP T tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 155639, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH02273/CMĐ số QĐ: 770/QĐ-UBND do U cấp ngày 02/02/2013mang tên ông Phạm Văn D1.Hợp đồng thế chấp bất động sản số 03/2020/9618596/HĐTC ký ngày 26/11/2020;
  6. Diện tích 269 m² tại thửa đất số: 44, 229 tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 547584, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH011659/NCN SỐ QĐ: 477/QĐ-UBND do U cấp ngày 16/01/2012 mang tên Phạm Minh T5. Hợp đồng thế chấp bất động sản số 03/2020/9618596/HĐTC ký ngày 23/12/2020;

Đều được công chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ số A, ngõ B, đường P, TDP D, phường B, thị xã P (nay là TP P), tỉnh Thái Nguyên.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ông Phạm Văn T4 đã không thực hiện trả nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn như nội dung Hợp đồng tín dụng đã ký kết dẫn đến khoản nợ bị quá hạn. Ngân hàng B đã nhiều lần gửi thông báo nợ quá hạn, nhắc nợ, yêu cầu khách hàng làm việc về vấn đề giải quyết nợ quá hạn nhưng Ông T4 không có thiện chí hợp tác trả nợ, đồng thời cũng không hợp tác bàn giao tài sản để B tiến hành xử lý.

Trong quá trình trả nợ ông T4 đã trả theo lịch định kỳ là 740.800.000 đồng. Đến ngày 16/02/2022, ông T4 đề nghị rút 02 tài sản là GCNQSDĐ số CE895027 và CE 895028 trả vào HĐ số 01.04/2020/9618596/HĐTD số tiền 580.000.000đ; ngày 28/12/2022, ông T4 đề nghị rút 01 tài sản là GCNQSDĐ số CG913753, trả vào HĐ số 01.04/2020/9618596/HĐTD số tiền 718.000.000đ và HĐ số 01.05/2020/9618596/HĐTD số tiền 594.000.000đ.

Ngân hàng TMCP Đ đề nghị Tòa án Buộc ông Phạm Văn T4 phải trả cho B tạm tính đến ngày 20/8/2024 là 13.221.859.875đ,trong đó nợ gốc là 10.542.200.000đ, nợ lãi là 2.679.659.875đ, gồm nợ lãi trong hạn: 2.250.097.257đ, nợ lãi quá hạn: 429.562.618đ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông T4 còn tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.

Nếu Ông Phạm Văn T4 không thực hiện trả ngay toàn bộ khoản nợ nêu trên, B có quyền tự mình hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho B, cụ thể là:

  1. Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 209, tờ bản đồ số 23, địa chỉ tại xã Q, TP T, tỉnh Thái Nguyêntheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 945135, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH04657/NCN, số QĐ 1131/UBND do UBND thành phố T ngày 04/02/2015 mang tên ông Phạm Văn T4 và bà Phạm Thúy N1.
  2. Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 299, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái NguyênGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 913755, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 194/NCN do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/03/2017 mang tên Phạm Minh T5.
  3. Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái Nguyêntheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 913756; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 195/NCN do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/03/2017 mang tên Phạm Minh T5.
  4. Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 298, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái Nguyêntheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 913754; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 193/NCN do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/03/2017 mang tên Phạm Minh T5.
  5. Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 43, TBĐ 27, địa chỉ tại Phường P TP T tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 155639, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH02273/CMĐ số QĐ: 770/QĐ-UBND do U cấp ngày 02/02/2013mang tên ông Phạm Văn D1.
  6. Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất tại số: 44, 229 tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 547584, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH011659/NCN SỐ QĐ: 477/QĐ-UBND do U cấp ngày 16/01/2012 mang tên Phạm Minh T5.

Trường hợp sau khi phát mại tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ, ông T4 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng đến khi thanh toán xong.

Ngày 04/4/2024, Ngân hàng TMCP Đ đề nghị rút 01 phần yêu cầu khởi kiện về nội dung yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo là Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 44, 229 tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 547584, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH011659/NCN SỐ QĐ: 477/QĐ-UBND do U cấp ngày 16/01/2012 mang tên Phạm Minh T5.

Bị đơn ông Phạm Văn T4 trong bản tự khai, các biên bản do Toà án lập trình bày:

Tôi xác nhận có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N2. Tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay là:

  • Diện tích 169 m² tại thửa đất số 209, tờ bản đồ số 23 có địa chỉ tại xã Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên
  • Diện tích 47 m² tại thửa đất số 299, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái Nguyên
  • Diện tích 48 m² tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái Nguyên
  • Diện tích 47 m² tại thửa đất số 298, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái Nguyên
  • Diện tích 294,7 m² tại thửa đất số 43, TBĐ 27, địa chỉ tại Phường P TP T tỉnh Thái Nguyên
  • Diện tích 269 m² tại thửa đất số: 44, 229 tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên.

Tôi nhất trí với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N2. Tuy nhiên, do hiện tại chưa có điều kiện trả nợ nên đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho chúng tôi trả nợ dần. Tôi mong muốn Ngân hàng tạo điều kiện cho tôi trả khoản vay để rút tài sản thế chấp của vợ chồng tôi trước, còn lại tôi sẽ có lộ trình trả nợ cho Ngân hàng trong vòng 12 tháng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Minh T5 tại bản tự khai, biên bản hoà giải do Toà án lập trình bày:

Tôi xác nhận có thế chấp tài sản là - Diện tích 47 m² tại thửa đất số 299, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái NguyênGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 913755, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 194/NCN do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/03/2017 mang tên Phạm Minh T5.

  • Diện tích 48 m² tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyêntheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 913756; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 195/NCN do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/03/2017 mang tên Phạm Minh T5.
  • Diện tích 47 m² tại thửa đất số 298, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái Nguyêntheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 913754; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 193/NCN do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/03/2017 mang tên Phạm Minh T5.
  • Diện tích 269 m² tại thửa đất số: 44, 229 tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 547584, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH011659/NCN SỐ QĐ: 477/QĐ-UBND do U cấp ngày 16/01/2012 mang tên Phạm Minh T5.

Để đảm bảo cho khoản vay của ông Phạm Văn T4 tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N3. Tôi nhất trí với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, do dịch bệnh và công việc kinh doanh khó khăn ảnh hưởng đến quá trình trả nợ của ông T4.

Tôi mong muốn Ngân hàng tạo điều kiện cơ cấu nợ để ông T4 trả nợ cho Ngân hàng, tôi đề nghị Ngân hàng cho ông T4 trả riêng khoản vay để rút tài sản của ông T4 ra trước.Về tài sản của tôi, tôi nhất trí phối hợp với Ngân hàng để trả nợ cho Ngân hàng.

Về thửa đất số: 44, 229 tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại Phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên: Tôi có biết việc có ông T7, bà T6 đến khu đô thị của tôi ở, tuy nhiên do thửa đất ông bà đang ở không phải do tôi chuyển nhượng và do bận công việc không có mặt ở nhà nên tôi chưa có ý kiến với ông bà. Tôi không cho ông T7, bà T6 thuê, ở nhờ, mượn thửa đất số: 44, 229 tờ bản đồ số 28. Tôi đề nghị ông T7, bà T6 trả lại cho tôi thửa đất số: 44, 229 tờ bản đồ số 28 để tôi tiếp tục quản lý, sử dụng. Nếu ông T7, bà T6 có nguyện vọng mua lại thửa đất số: 44, 229 tờ bản đồ số 28, chúng tôi sẽ giải quyết sau, không liên quan đến vụ án này.

Toà án có thông báo với tôi về kết quả thẩm định tài sản thửa đất 43, tờ bản đồ số 27 tại phường P, TP T của anh Phạm Văn D1 có lấn sang thửa đất số 15, 16 của vợ chồng tôi. Quan điểm của tôi là: Đây là tài sản của anh em trong gia đình nên trong trường hợp tài sản của D1 lấn sang đất của vợ chồng tôi thì tôi đồng ý phối hợp cùng Ngân hàng để xử lý tài sản trả nợ cho Ngân hàng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn D1 trình bày:

Tôi xác nhận có thế chấp thửa 43, tờ bản đồ số 27 phường P, thành phố T để đảm bảo khoản vay cho anh T4 tại Ngân hàng B. Nay Ngân hàng khởi kiện, quan điểm của tôi là đề nghị Ngân hàng miễn giảm lãi cho anh T4 và giãn thời gian trả nợ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thúy N1 tại bản tự khai, biên bản hoà giải do Toà án lập trình bày: nhất trí với ý kiến của chồng bà là ông Phạm Văn T4.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Thanh M1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án nhưng không đến làm việc theo giấy triệu tập, không có ý kiến gửi đến Toà án theo quy định.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nông An T7 và bà Dương Thị T6 tại bản tự khai, biên bản hoà giải do Toà án lập trình bày:

Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chúng tôi mua thửa đất số 133, tờ số 28 tại Phường P, TP T. Trên đất có nhà 4 tầng – 5 tầng, khung chịu lực bê tông cốt thép, mái bằng bê tông cốt thép và sau đó ngày 3/3/2020 chúng tôi được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CU 774331 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp mang tên bà Dương Thị T6. Sau khi lập hợp đồng bàn giao tiền, chủ sử dụng đất và nhà đã bàn giao cho gia đình tôi đến ở từ đầu tháng 12/2019 đến nay. Quá trình sinh sống, tôi đã sửa lại, lợp tum chống nóng, làm bếp quây tôn và lát nền gạch sân, mở thêm cửa ngách, làm chấn song sắt inox từ tầng 1 đến tầng 2, làm cửa kính và cửa cuốn của ngôi nhà, lắp bàn bếp và chậu rửa bếp, mở đường điện và đường nước. Lắp nội thất các phòng. Tổng giá trị chúng tôi sửa lại ngôi nhà hết khoảng 400.000.000 đồng. Đến nay Ngân hàng khởi kiện, chúng tôi mới được biết vị trí đất ở của chúng tôi không phải thửa 133 như đã mua bán mà lại là thửa số 44, 229 mang tên anh Phạm Minh T5. Khi mua bán chúng tôi được bàn giao nhà và đất đúng như vị trí mà người chuyển nhượng chỉ cho tôi, và thực tế người chuyển nhượng đang hoàn thiện nội thất ngôi nhà đó.Đến nay tôi khẳng định vị trí đất và nhà tôi mua đúng vị trí đất và nhà hiện tại tôi đang sinh sống. Việc chuyển nhượng thửa đất 133 do bên chuyển nhượng làm thủ tục cấp giấy chứng nhận cho tôi nên tôi không biết. Từ khi vào ở tháng 12/2019 đến nay không hề có bất kỳ tranh chấp gì xảy ra, chỉ đến khi ngân hàng khởi kiện chúng tôi mới được biết vị trí đất này là thửa khác. Qua tìm hiểu, tôi được biết thửa đất số 133, tờ bản đồ 28 mang tên tôi lại ở vị trí khác, thực tế người đang sử dụng vị trí đất đó là anh Phạm Minh T5 và tại thửa 133 không có nhà 4 tầng – 5 tầng theo như mô tả trên.

Nay ngân hàng khởi kiện, quan điểm của chúng tôi là chúng tôi có nguyện vọng tiếp tục sử dụng đất và nhà mà chúng tôi đã mua trên thực tế.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/KDTM-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.

Buộc ông Phạm Văn T4 có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm 20/8/2024 là 13.221.859.875₫ (Mười ba tỷ, hai trăm hai mươi mốt triệu, tám trăm năm mươi chín nghìn, tám trăm bảy mươi lăm đồng),trong đó:

  • Nợ gốc: 10.542.200.000đ.
  • Lãi trong hạn: 2.250.097.257₫.
  • Lãi quá hạn: 429.562.618đ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Phạm Văn T4 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp ông T4 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ theo các hợp đồng thế chấp đã ký, bao gồm:

  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 209, tờ bản đồ số 23, diện tích 169m2,có địa chỉ tại xã Q, TP T, tỉnh Thái NguyênGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 945135, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH04657/NCN, số QĐ 1131/UBND do U ngày 04/02/2015 mang tên ông Phạm Văn T4 và bà Phạm Thúy N1, theo các mốc 1,2,4,6,7,8,9,1 (có sơ đồ kèm theo)theo Hợp đồng thế chấp số 01/2018/9618596/HĐBĐ ngày 12/4/2018 ký tại Văn phòng C1, tỉnh Thái Nguyên và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 13/4/2018.
  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 299, tờ bản đồ số 28, diện tích 47m2, địa chỉ tại Phường P, TP T, tỉnh Thái NguyênGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CG 913755, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 194/NCN do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/03/2017 mang tên Phạm Minh T5, theo các mốc 2,3,5,6,7,1,2 (có sơ đồ kèm theo).theo Hợp đồng thế chấp số 05/2018/9618596/HĐTC ngày 13/9/2018 ký tại Văn phòng C1, tỉnh Thái Nguyên và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 13/9/2018.
  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 28, diện tích 48m2, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái NguyênGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 913756; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 195/NCN do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/03/2017 mang tên Phạm Minh T5, theo các mốc A,B,C, D,A (có sơ đồ kèm theo).theo Hợp đồng thế chấp số 06/2018/9618596/HĐTC ngày 13/9/2018 ký tại Văn phòng C1, tỉnh Thái Nguyên và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 13/9/2018.
  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 298, tờ bản đồ số 28, diện tích 47 m2, địa chỉ tại Phường P, TP T, Tỉnh Thái NguyênGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 913754; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 193/NCN do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/03/2017 mang tên Phạm Minh T5, theo các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 1 (có sơ đồ kèm theo).theo Hợp đồng thế chấp số 09/2018/9618596/HĐTC ngày 04/10/2018 ký tại Văn phòng C1, tỉnh Thái Nguyên và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 05/10/2018.
  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 43, tờ bản đồ số 27, diện tích 294,7 m²,địa chỉ tại Phường P TP T tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 155639, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH02273/CMĐ số QĐ: 770/QĐ-UBND do U cấp ngày 02/02/2013mang tên ông Phạm Văn D1, theo các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 1 (có sơ đồ kèm theo). theo Hợp đồng thế chấp số 03/2020/9618596/HĐTC ngày 26/11/2020 ký tại Văn phòng C1, tỉnh Thái Nguyên và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 26/11/2020.

Nếu số tiền thu được từ phát mại tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ, ông T4 phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (B) đến khi thực hiện xong toàn bộ khoản nợ.

2. Đình chỉ giải quyết 1 phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 44, 229 tờ bản đồ số 28, diện tích 269 m², địa chỉ tại Phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 547584, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH011659/NCN SỐ QĐ: 477/QĐ-UBND do U cấp ngày 16/01/2012 mang tên Phạm Minh T5,theo Hợp đồng thế chấp số03/2020/9618596/HĐTC ngày 23/12/2020ký tại Văn phòng C1, tỉnh Thái Nguyên và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 23/12/2020.

Ngoài ra bản án còn quyết định về trách nhiệm trả nợ cụ thể đối với từng hợp đồng tín dụng, xử lý tài sản thế chấp, về án phí, lệ phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 03/10/2024 ông Phạm Minh T5 và ông Phạm Văn T4 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án số 85 ngày 20/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên theo hướng sửa bản án sơ thẩm, huỷ toàn bộ bản án để giải quyết lại vụ án.

Tại phiên toà ông T5 và ông T4 giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày nội dung kháng cáo của bị đơn, các căn cứ kháng cáo và tranh luận:

Toà án cấp sơ thẩm chưa đánh giá chứng cứ đầy đủ chứng cứ trong vụ án, Toà án cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng, cụ thể: Tài sản thế chấp thửa đất số 43 của của ông D1 trên đất có ngôi nhà 2 tầng và có một phần xây dựng lấn sang thửa 15 và thửa 16, chưa xác định của ai, chưa có ý kiến của họ, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án.

Ông Phạm Văn T4 nhất trí quan điểm bảo vệ của luật sư, ông T4 cho rằng: Khoản vay của Ngân hàng, ông T4 chỉ vay tương ứng với phần tài sản đảm bảo là nhà đất của vợ chồng ông T4, việc ông T4 ký kết hợp đồng tín dụng là do ông vay hộ ông T5, tài sản đảm bảo là của ông T5. Đề nghị Ngân hàng tách riêng khoản vay của ông và của ông T5 để ông trả nợ Ngân hàng phần nợ của ông T4 và xin rút tài sản đảm bảo của ông để gia đình ông quản lý, sử dụng.

Ông Phạm Minh T5 trình bày nội kháng cáo và các căn cứ kháng cáo: Ông T5 mong muốn Ngân hàng bóc tách khoản vay của ông T5 và khoản vay của ông T4 để ông T4 trả nợ riêng và được nhận lại tài sản thế chấp của ông T4 là nhà và đất để gia đình ông T4 quản lý sử dụng. Trong tài sản thế chấp thửa đất số 43 của của ông D1 trên đất có ngôi nhà 2 tầng và có một phần xây dựng lấn sang thửa 15 và thửa 16, chưa xác định của ai, chưa có ý kiến của họ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Đại diện của Ngân hàng TMCP Đ không nhất trí toàn bộ nội dung kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn T4 và không nhất trí kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Minh T5. Ngân hàng xác định: Về tài sản thế chấp là thửa đất số 43 của ông D1, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông D1 đã có quan điểm nhất trí không có ý kiến gì và sẽ thoả thuận trong quá trình thi hành án. Về khoản nợ và các tài sản đảm bảo cho khoản vay của ông T4 đối với Ngân hàng, ông T4 đã nhất trí. Trong quá trình thi hành bản án, Ngân hàng N4 thoả thuận để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Minh T5 và ông Phạm Văn T4.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS- ST ngày 20/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Ông Phạm Minh T5 và ông Phạm Văn T4 phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của ông Phạm Minh T5 và ông Phạm Văn T4 làm trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của ông Phạm Văn T4 và ông Phạm Minh T5, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Ngân hàng TMCP Đ và ông Phạm Văn T4 có ký nhiều hợp đồng hạn mức và hợp đồng tín dụng, sau khi ký hợp đồng B đã giải ngân cho ông T4 nhiều lần, ông T4 đã ký nhận nợ. Để đảm bảo cho khoản vay, ông Phạm Văn T4, Phạm Minh T5 và ông Phạm Văn D1 đã thế chấp đất và tài sản gắn liền với đất của nhiều thửa đất, việc thế chấp được lập thành văn bản và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Căn cứ vào các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và quá trình thực hiện hợp đồng có đủ cơ sở xác định đến nay ông T4 còn nợ Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền gốc và lãi là 13.221.859.875₫ .

Tại phiên toà phúc thẩm, ông T4 và ông T5 đều nhất trí xác định hợp đồng tín dụng giữa ông T4 và Ngân hàng, số tiền vay, số tiền còn nợ của ông T4, các tài sản để đảm bảo cho khoản vay của ông T4 với Ngân hàng đúng như yêu cầu khởi kiện của Ngân Hàng. Bản án sơ thẩm đã quyết định buộc ông Phạm Minh T5 có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền là tính đến ngày xét xử sơ thẩm 20/8/2024 là 13.221.859.875đ (Mười ba tỷ, hai trăm hai mươi mốt triệu, tám trăm năm mươi chín nghìn, tám trăm bảy mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc: 10.542.200.000đ. Lãi trong hạn: 2.250.097.257đ. Lãi quá hạn: 429.562.618 là có căn cứ.

Về nội dung kháng cáo của ông T4 và ông T5 cho rằng Toà án cấp sơ thẩm không xem xét tài sản thế chấp là thửa đất số 43 mang tên ông D1 có lấn sang thửa đất 15 và 16 của người khác. Hội đồng xét xử thấy rằng. Tài sản đảm bảo trong hợp đồng tín dụng giữa ông T4 với Ngân hàng có thửa đất số 43 của ông Phạm Văn D1 là nhà và đất, theo biên bản xem xét thẩm định thì ngôi nhà của ông D1 có xây sang một phần thửa 15 và thửa 16, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án ông D1 đã có ý kiến đề nghị tự thoả thuận. Ngân hàng xác định thửa đất 15 và 16 là của ông Phạm Minh T5 và bà M1, 02 thửa đất này đang là tài sản đảm bảo của ông T5 đối với khoản vay với Ngân hàng mà Ngân hàng đã khởi kiện. Tại phiên toà sơ thẩm, Ngân hàng đề nghị Toà án giải quyết theo đúng ranh giới, diện tích cấp giấy chứng nhận QSD đất của anh D1, Ngân hàng sẽ thoả thuận trong quá trình thi hành án tài sản. Toà án cấp sơ thẩm đã nhận định đối với phần diện tích sử dụng thực tế bị chồng lấn sang các thửa đất giáp ranh, các đương sự có quyền thoả thuận trong giai đoạn thi hành án đối với những người liên quan, nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác là có căn cứ.

Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Phạm Văn T4 và ông Phạm Minh T5.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.

[3.] Về án phí. Do không được chấp nhận kháng cáo nên ông Phạm Minh T5 và ông Phạm Văn T4 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự,

Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn T4 và ông Phạm Minh T5

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/KDTM-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

2. Án phí phúc thẩm: Ông Phạm Minh T5 và ông Phạm Văn T4 mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003449 ngày 12/11/2024 (ông Phạm Văn T4) và biên lai thu số 0003340 ngày 21/10/2024 (ông Phạm Minh T5) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND TPTN;
  • - THADS TPTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/DS-PT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 29/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QUYẾT ĐỊNH: 1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự, Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn T4 và ông Phạm Minh T5 Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/KDTM-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger