Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/02/2025

V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Dương Triết Minh;
  2. Ông Huỳnh Văn Tý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 341/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2024, về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/12/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/01/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Dương Hồ Như T, sinh năm 1991 (Có mặt)
  2. HKTT: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Tạm trú: Ấp P, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0366.722.xxx

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn T1, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0942.300.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Dương Hồ Như T trình bày:

Tôi với anh T1 tự tìm hiểu khoảng 01 năm thì tiến tới chung sống từ năm 2013, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 01/2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên do anh T1 cờ bạc, có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, gây nợ nần, không phụ tiếp tôi nuôi con, vợ chồng thường xuyên cự cãi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Tôi và gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên anh T1 sửa đổi để vợ chồng hàn gắn nhưng không được. Từ tháng 5/2024 anh T1 bắt đầu bỏ nhà đi, thỉnh thoảng có về thăm nhà rồi đi nữa, không biết đi đâu. Vợ chồng cũng ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn T1. Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh ngày 13/8/2015 và Nguyễn T3, sinh ngày 08/9/2021 (hiện 02 con đang sống với mẹ). Sau khi ly hôn tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: Về tài sản chung: Không có; Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyện vọng của con chung: Tại biên bản Ghi nhận ý kiến của người chưa thành niên ngày 09/10/2024 cháu Nguyễn Thị Ngọc T2 có nguyện vọng được sống với mẹ.

Đối với bị đơn anh Nguyễn T1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn T1 nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh T1 đã vắng mặt không lý do nên không có lời khai của anh T1.

Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của chị T, anh T1 tại biên bản lấy lời khai ngày 09/10/2024 của người làm chứng chị Tô Thị Thúy H thể hiện: T và T1 do tự tìm hiểu mới tiến tới chung sống từ năm 2013, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng T, T1 chung sống rất hạnh phúc và có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh ngày 13/8/2015 và Nguyễn T3, sinh ngày 08/9/2021. Đến đầu năm 2024 T, T1 thường xuyên cự cãi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng T, T1 đã ly thân, hiện 02 con chung đang sống với T.

Tại phiên tòa: Chị Dương Hồ Như T có mặt; bị đơn anh Nguyễn T1 vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh T1. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh ngày 13/8/2015 và Nguyễn T3, sinh ngày 08/9/2021 cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Chị T yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Bị đơn anh Nguyễn Thuận cư T4 tại huyện T, tỉnh An Giang nên theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa hôm nay anh T1 vẫn vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Hồ N Thủy chung sống với anh Nguyễn T1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang ngày 29/7/2013. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Sau khi kết hôn, chị T và anh T1 có một khoảng thời gian dài chung sống hạnh phúc, đến tháng 01/ 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không còn tin tưởng nhau, anh T1 không quan tâm vợ con, không lo cho kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Mâu thuẫn kéo dài mặc dù chị T đã cho anh T1 nhiều cơ hội sửa đổi nhưng vẫn không đạt kết quả. Vợ chồng anh chị đã ly thân từ tháng 05/2024 cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh T1 có nhận thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng khác của Tòa án nhưng không đến Tòa để tham dự các phiên hòa giải cũng như xét xử, không gửi tờ tự khai thể hiện ý kiến của mình là mặc nhiên thừa nhận có sự mâu thuẫn giữa vợ chồng và không có ý muốn hàn gắn. Do đó chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn là có cơ sở.

Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T1.

[2.2] Về con chung: Qua chứng cứ chị Thủy cung C thì chị Dương Hồ Như T và anh Nguyễn T1 có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh ngày 13/8/2015 và Nguyễn T3, sinh ngày 08/9/2021 (hiện 02 con đang sống với mẹ). Quá trình giải quyết vụ án cháu Nguyễn Thị Ngọc T2 có nguyện vọng sống với mẹ, bản thân chị T đủ điều kiện trực tiếp nuôi 02 con chung và cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi 02 con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án anh T1 không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị T về con chung. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, giao con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh ngày 13/8/2015 và Nguyễn T3, sinh ngày 08/9/2021 cho chị Dương Hồ Như T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu T2 và cháu Tiến thành N1 (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của 02 cháu; Chị T phải tạo điều kiện cho anh T1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc các con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết anh T1 có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[2.4] Về quan hệ tài sản:

[2.4.1] Về tài sản chung: Chị T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4.2] Về nợ chung: Chị T trình bày tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

[4] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

[5] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Hồ Như T.

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Hồ Như T được ly hôn với anh Nguyễn T1.
  2. 2. Về quan hệ con chung: Chị Dương Hồ Như T được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh ngày 13/8/2015 và Nguyễn T3, sinh ngày 08/9/2021; Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
  3. 3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn T1 không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung do chị Dương Hồ Như T không yêu cầu. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. 4. Về tài sản chung và nợ chung:
    • - Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Dương Hồ Như T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
    • - Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Dương Hồ Như T trình bày tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
  5. 5. Về án phí sơ thẩm: Chị Dương Hồ Như T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0011542 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, chị Dương Hồ Như T đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Anh Nguyễn T1 không phải chịu án phí.

Nguyên đơn chị Dương Hồ Như T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn anh Nguyễn T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã (phường, thị trấn) nơi anh Nguyễn Thuận cư T4 để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - UBND xã Định Mỹ, h. Thoại Sơn;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Cẩm Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger