Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày 07- 02 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Văn Nhung và ông Nguyễn Văn Hoàn
  • - Thư ký phiên toà: Ông Phạm Anh Ly, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại Hội trường A Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 424/2024/HSST ngày 10 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 23/01/2025 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1985 tại tỉnh Bình Phước; thường trú: Không có hộ khẩu thường trú; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 2/12; con ông (không rõ) và con bà Lê Thu H, sinh năm 1964; tiền sự: Không có.

Tiền án:

  • + Ngày 06/8/2008, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án 195, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2009, bị cáo chưa đóng án phí
  • + Ngày 17/9/2020, Tòa án nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 115, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 01/4/2022, bị cáo chưa đóng án phí.

Nhân thân:

  • Ngày 16/6/2006, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, theo bản án số 758, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2008.
  • Ngày 13/5/2011 bị Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định về việc phân bố học viên vào Trường giáo dục và đào tạo giải quyết việc làm số 1 thời gian cai nghiên chữa trị 24 tháng, đến ngày 18/02/2013 chấp hành xong.
  • Ngày 31/12/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, theo quyết định số 14. Ngày 15/11/2016 chấp hành xong.
  • Ngày 06/10/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng, theo quyết định số 602 đến ngày 08/4/2019 chấp hành xong.
  • Ngày 18/11/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng, theo quyết định số 375, ngày 17/5/2024 chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam từ ngày 16/8/2024, có mặt.

Bị hại:

  • 1. Ông Huỳnh Kim S, sinh năm 1977; thường trú: Ấp T, xã N, huyện H, tỉnh Long An; tạm trú: Khu phố A, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  • 2. Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1976; thường trú: Khu phố B, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Hứa Đăng H, sinh năm 2001; thường trú: Khu phố B, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Huỳnh Anh K; 2. Anh Lê Tuấn A, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 16/8/2024, bị cáo Lê Văn T đi bộ trên đường Quốc Lộ 1K tìm tài sản để bán lấy tiền. Vào lúc 20 giờ 10 phút cùng ngày, T đi vào đường hẻm thuộc khu phố A, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Khi đến trước nhà số 16/3, T gặp 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Asama, màu đỏ của ông Huỳnh Kim S dựng phía trước, T tiếp cận rồi lên xe đạp ra hướng đường Quốc lộ 1K rồi rẽ trái về hướng ngã tư Bình Thung. T đi đến trước Bưu cục Giao hàng nhanh đường số 2, khu tái định cư C thuộc khu phố A, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương, T gặp 01 xe môtô biển số 61H7-2716 của bà Nguyễn Thị Hồng N (bà N giao xe cho con trai là Hứa Đăng H làm phương tiện đi làm), trên xe môtô có sẵn chìa khoá. T dựng xe đạp Asama bên cạnh xe môtô biển số 61H7-2716 rồi lên xe môtô biển số 61H7-2716, bật chìa khóa xe nổ máy tẩu thoát thì bị anh Hứa Đăng H phát hiện, lúc này anh H cùng anh Huỳnh Anh K dùng xe môtô truy đuổi khoảng 1 km thì bắt giữ được T sau đó báo Công an phường H, thành phố Dĩ An lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang

Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh, biển số 61H7-2716, số khung RLHHC08082Y83635, số máy HC08E0183629, phía sau xe có gắn một baga bằng kim loại tự chế trọng lượng 05 kg; một xe đạp màu đỏ trên khung xe có chữ Asama. Tài sản đã trả lại chủ sở hữu ông Huỳnh Kim S và bà Nguyễn Thị Hồng N

Kết luận định giá tài sản số 169 ngày 23/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An, kết luận:

  • + Xe môtô 02 bánh nhãn hiệu Wave, số loại KRSA 100, màu xanh, biển số: 61H7-2716, số khung: Y183635, số máy: 0183629 trị giá 1.250.000 đồng; baga kim loại 05 Kg trị giá 50.000 đồng; xe đạp trẻ em Asama màu đỏ, trị giá 850.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 2.150.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Kim S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Cáo trạng số 15/CT – VKS-DA ngày 10 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt Bộ luật hình sự). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T từ 02 năm 06 tháng đến 3 năm tù.

Bị cáo T không tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo T nói lời sau cùng: Biết việc mình làm là sai, xin giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Chứng cứ xác định có tội của bị cáo Lê Văn T: Tối ngày 16/8/2024 bị cáo T lén lút chiếm đoạt 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave màu xanh, biển số 61H7-2716 phía sau xe có gắn một baga bằng kim loại tự chế trọng lượng 05 kg của bà Nguyễn Thị Hồng N có trị giá 1.250.000 đồng; một xe đạp màu đỏ trên khung xe có chữ Asama của ông Huỳnh Kim S có trị giá 850.000 đồng. Tổng trị giá tài sản 2.150.000 đồng. Như vậy, hành vi trên của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do bị cáo đã tái phạm, lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 10/12/2024 của Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như trình bày luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân rất xấu thể hiện việc không có nghề nghiệp, nhiều lần bị xét xử, bị đưa đi cai nghiện bắt buộc do vi phạm pháp luật hình sự.

[6] Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo T phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 07 năm tù, bị cáo thực hiện tội phạm một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của các bị hại trong vụ án được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Kim S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Hội đồng xét xử không xét.

[8] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo T phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.

[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 16/8/2024.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14

Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND Thành phố;
  • - Công an Thành phố;
  • - Chi cục THA dân sự Thành phố;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD;
  • - TAND tỉnh BD;
  • - VKS tỉnh BD;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh BD;
  • - Phòng PC 10 CA tỉnh BD;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi nvlq đến vụ án;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T chiếm đoạt tài sản trị giá 2.150.000 đồng, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger