trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23/01/2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Văn Cường

Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 470/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2024/QĐXXST -HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1980; thường trú: Số E, đường B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Đặng Văn T1, sinh năm 1977; thường trú: Số E, đường B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/8/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Bùi Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Đặng Văn T1 sau thời gian quen nhau thì tiến tới hôn nhân năm 2001. Vợ chồng có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên theo giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01 ngày 01/8/2001. Việc kết hôn là tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng về quan điểm sống, lối sống, các bên không tìm được sự đồng cảm trong việc giải quyết các vấn đề gia đình, công việc và cuộc sống. Trong suốt thời gian qua, mặc dù chị T đã cố gắng hàn gắn và mong vợ chồng tìm được tiếng nói chung để giữ gìn mái ấm, hạnh phúc gia đình được êm ấm. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa giữa hai vợ chồng không thể khắc phục và ngày càng trầm trọng hơn, nếu tiếp tục chung sống chỉ làm khổ cho nhau và cho cả gia đình. Chị T xác định hạnh phúc giữa chị T và anh T1 không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh T1.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Đặng Duy H, sinh ngày 13/3/2003 và cháu Đặng Phương V, sinh ngày 10/10/2009. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Phương V và không yêu cầu anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Con chung Đặng Duy H đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Đặng Văn T1: Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 17/12/2024 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, do đó vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên tòa vào các ngày 02/01/2025 và 23/01/2025 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do nên Tòa án căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

+ Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Bùi Thị T có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn Đặng Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Đặng Văn T1 có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01 ngày 01/8/2001 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên cấp nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình tố tụng chị T xác định cuộc sống hôn nhân của vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh T1. Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc chị T xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do tính tình không phù hợp và không còn tiếng nói chung, hiện cả hai đều không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Bản thân anh T1, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập anh T1 đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T1 không có mặt và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai bên đều không muốn hàn gắn tình cảm. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Khi giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chưa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đặng Phương V, sinh ngày 10/10/2009, anh T1 vắng mặt và không có bất kỳ ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung. Tại bản tự khai ngày 23/10/2024, cháu V có nguyện vọng được sống với chị T nên để ổn định tâm lý và cuộc sống của cháu nên giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu V là phù hợp, ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu V. Con chung Đặng Duy H, sinh ngày 13/3/2003 đã đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Đặng Văn T1.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Đặng Văn T1 (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01 ngày 01/8/2001 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên cấp).

- Về con chung: Giao con chung tên Đặng Phương V, sinh ngày 10/10/2009 cho chị Bùi Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị T về việc không yêu cầu anh Đặng Văn T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đặng Phương V.

Sau ly hôn, chị Bùi Thị T và anh Đặng Văn T1 đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001610 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  2. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - UBND xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger