Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày: 22-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Và Dưỡng và bà Nguyễn Thị Quy.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan, Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại Phòng xét xử A - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 276/2024/TLST – HS ngày 26/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Thiều Đức D, sinh năm 1994, tại Lâm Đồng. (có mặt)

Nơi cư trú: số A, đường C, tổ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thiều Đức Đ, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965, gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; chung sống như vợ chồng với chị Lê Thị Minh T1, sinh năm 1995 và có 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo được khởi tố tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 07/11/2023 đến nay.

Bị hại: Công ty TNHH H

Địa chỉ trụ sở: số G, Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Anh T2, sinh năm 1969; chức vụ: Giám đốc.

Thường trú tại: Thôn K, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Xuân T3, sinh năm 1986 (theo giấy ủy quyền ngày 28/9/2023) vắng mặt.

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phi C, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thiều Đức D có giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 27/02/2020, có giá trị sử dụng đến ngày 27/02/2025.

Vào khoảng 11 giờ ngày 21/9/2023, Thiều Đức D điều khiển xe ô tô tải BKS: 49C-097.86 (thuộc sở hữu của D) đi từ huyện T, tỉnh Lâm Đồng lưu thông trên Quốc lộ B hướng về thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 14 giờ cùng ngày, khi đi đến K Quốc lộ B thuộc ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, lúc này phát hiện có 01 xe ô tô con lưu thông cùng chiều phía trước giảm tốc độ, do không giữ khoảng cách an toàn, sợ va chạm với xe ô tô con nói trên nên D đã điều khiển xe ô tô qua bên trái đi vào phần đường hướng lưu thông Thống Nhất - Đ dẫn đến va chạm với xe ô tô khách giường nằm BKS: 49B-010.31 do anh Nguyễn Phi C điều khiển đang lưu thông hướng Thống Nhất - Đ. Hậu quả khiến 02 xe ô tô hư hỏng.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

  • Hiện trường là đoạn đường thẳng, mặt đường rộng 11m, có vạch sơn tim đường màu vàng chia làm hai chiều đường rộng 5,5m. Vị trí xảy ra tai nạn, mặt đường bằng phẳng, khô ráo.
  • (1) Là vị trí xe ô tô biển số 49C-097.86
  • (2) Là vị trí xe ô tô biển số 49B-010.31
  • Lấy mép đường bên phải hướng lưu thông từ T - T làm mép đường chuẩn.
  • Lấy trụ điện số 24 nằm bên trong mép đường chuẩn làm điểm mốc.
  • Sau tai nạn toàn bộ thân xe ô tô biển số 49C-097.86 nằm ngả nghiêng sang phải trên mặt đường, đầu xe hướng sang mép đường bên trái hướng lưu thông T - T. Đầu trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn là 1,7m và cách điểm mốc là 14m. Đầu trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 8,8m và cách điểm mốc là 18m.
  • Sau tai nạn toàn bộ thân xe ô tô biển số 49B-010.31 dừng trên lề đường bên trái hướng lưu thông từ T đi T. Đầu trục bánh sau bên trái cách đầu trục bánh trước bên phải của xe ô tô biển số 49C-097.86 là 3,9m và cách mép đường bên trái hướng lưu thông từ T đi T là 0,5m. Đầu trục bánh trước bên trái cách mép đường bên trái hướng lưu thông từ T đi T là 2,8m. Đầu xe hướng T - T.
  • Xe ô tô biển số 49C-097.86 để lại trên mặt đường hai vết phanh; vết phanh thứ nhất cách mép đường chuẩn 03m, vết phanh trên dài 35m, điểm cuối vết phanh cách mép đường chuẩn là 2,1m; vết phanh thứ hai cách mép đường chuẩn là 3,7m, vết phanh trên dài 37m, điểm cuối vết phanh cách mép đường chuẩn là 2,6m.
  • Xe ô tô biển số 49B-010.31, bánh sau bên trái của xe để lại vết phanh dài 39m, điểm đầu vết phanh cách mép đường bên trái hướng lưu thông từ T – Thống Nhất là 05m, điểm cuối vết phanh trùng với vị trí bánh xe phía sau bên trái của xe ô tô biển số 49B-010.31.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

  • Xe ô tô biển số 49B-010.31: đầu xe phía trước bên trái bị va đập mạnh dẫn đến bị bể vỡ, móp méo, biến dạng; Kiếng chắn gió phía trước bên trái (bên tài) bị bể vỡ; Capo xe bị bể vỡ rơi ở hiện trường; Hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước bên trái bị bể vỡ; Thành xe và hệ thống kính chắn gió bên trái của xe bị biến dạng, trầy xước kim loại, bể vỡ kéo dài từ trước ra sau đuôi xe.
  • Xe ô tô biển số 49C-097.86: Capin xe ô tô bị móp méo biến dạng vào bên trong không rõ hình dạng; Toàn bộ hệ thống kiếng chắn gió ở capin xe bị bể vỡ; Hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước của xe bị bể vỡ; Thùng chở hàng của xe bị va đập xuống mặt đường dẫn đến cong vênh sườn khung của thùng.

Căn cứ Bản Kết luận giám định số 50/TTĐKXCG ngày 28/10/2023 của Trung tâm Đ1 kết luận:

  • Tình trạng kỹ thuật của xe ô tô biển số 49C-097.86 tại thời điểm kiểm tra:
    • + Lốp xe bình thường.
    • + Không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật của hệ thống phanh, hệ thống lái và hệ thống đèn.
  • Tình trạng kỹ thuật của xe ô tô biển số 49B-010.31 tại thời điểm kiểm tra:
    • + Lốp trước bên phụ bể. Các lốp còn lại bình thường.
    • + Không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật của hệ thống phanh, hệ thống lái và hệ thống đèn.
  • Tốc độ của xe ô tô biển số 49C-097.86 và xe ô tô biển số 49B-010.31 tại thời điểm xảy ra tai nạn không có cơ sở để xác định.

* Hậu quả:

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS ngày 16/11/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: xe ô tô khách biển số 49B-010.31 đã qua sử dụng, bị hư hỏng, trị giá tài sản thiệt hại là 402.556.229₫ (Bốn trăm lẻ hai triệu, năm trăm năm mươi sáu nghìn, hai trăm hai mươi chín đồng).

* Vật chứng vụ án:

  • 01 xe ô tô biển số 49C-097.86.
  • 01 xe ô tô biển số 49B-010.31.

Tại cáo trạng số 09/CT-VKSĐQ ngày 16 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Thiều Đức D về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị áp dụng d, khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt: Bị cáo D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo D thừa nhận hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Về hình phạt bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án treo và cam kết luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại, và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Căn cứ vào biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ, thể hiện:

Vào khoảng 11 giờ ngày 21/9/2023, Thiều Đức D điều khiển xe ô tô tải BKS 49C-097.86 đi từ huyện T, tỉnh Lâm Đồng lưu thông trên Quốc lộ B hướng về thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến K Quốc lộ B thuộc ấp C, xã P, huyện Đ, D điều khiển xe ô tô sang bên trái vào phần đường hướng lưu thông Thống Nhất - Đ dẫn đến va chạm với xe ô tô khách giường nằm BKS 49B-010.31 do anh Nguyễn Phi C điều khiển đang lưu thông hướng Thống Nhất - Đ. Hậu quả xe ô tô khách biển số 49B-010.31, bị hư hỏng, trị giá tài sản thiệt hại là 402.556.229đ.

Như vậy đủ cơ sở kết luận hành vi của D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” được quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là đúng người đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm tính đúng đắn và hoạt động bình thường của trật tự an toàn giao thông, thuộc trường hợp nghiêm trọng gây thiệt hại về tài sản, lỗi thuộc về bị cáo. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử với mức án vừa đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo gây ra. Do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Vì vậy cho bị cáo được hưởng mức án treo cũng đủ răn đe cải tạo và giáo dục.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự có nơi cư trú rõ ràng, vợ bỏ nhà đi và 01 mình bị cáo đang nuôi con còn nhỏ, có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, có cha ruột là người có thành tích phục vụ trong quân đội được Chủ tịch nước tặng huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba. Bị hại có tài sản bị thiệt hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và những tình tiết khác đã nhận định như trên, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

- Sau khi tai nạn xảy ra, Thiều Đức D đã bồi thường cho Công ty H Tuyên 95.000.000 đồng. Đại diện của Công ty đã làm đơn bãi nại cho Thiều Đức D và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[7] Về vật chứng vụ án:

- 01 xe ô tô biển số 49C-097.86, là tài sản hợp pháp của bị cáo Thiều Đức D. Cơ quan CSĐT đã trao trả cho chủ sở hữu.

- 01 xe ô tô biển số 49B-010.31 là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH H, địa chỉ số G thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Cơ quan CSĐT đã trao trả cho chủ sở hữu.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

òaHHJJJJJjjjdncncsnjcjjjjjjneqjd'unhfcowiujJjznqdsnhhudhh

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: điểm d, khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung 01 số điều của Nghị quyết số 02/2018.

Áp dụng: Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Thiều Đức D phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
    1. Xử phạt bị cáo Thiều Đức D 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/01/2025).

    Giao bị cáo Thiều Đức D cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí: Bị cáo Thiều Đức D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông T2, ông C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán;
  • - CQCSĐT Công an huyện Định Quán;
  • - CQ THA hình sự Công an huyện Định Quán;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thieu Duc D - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger