Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày 05/12/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Côn.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đức Trưởng và ông Nguyễn Đức Nghị.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, đối với Bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Hữu T, tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 01 tháng 11 năm 1991; tại huyện V, tỉnh Yên Bái.

Nơi cư trú: Thôn V, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12 Dân tộc: Tày;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Hoàng Hữu L, sinh năm 1964 (đã chết) và bà: Hà Thị T1, sinh năm 1963;

Vợ; Con: chưa có.

Tiền án: không.

Tiền sự: Ngày 05/02/2024 tại quyết định số:15/QĐ-XPHC của Chủ tịch UBND xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản sản nay chưa chấp hành.

Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Tại bản án số 58/2027/HSST ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt Bị cáo 02 năm 6 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Đến 19/01/2020 đã chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương đến nay đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/09/2024. Hiện Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho Bị cáo: Ông Lã Thành C – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).

- Bị hại: Anh Đinh Việt C1, sinh năm 1985 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Khu V, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Bùi Đức D - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Hà Văn T2, sinh ngày 12/06/2005; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu M, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

2. Hoàng Đình H, sinh năm 1996; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái;

3. Phạm Quang M, sinh năm 1974; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

a) Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 29/2/2024 Hoàng Hữu T cùng Hoàng Đình H và Hà Văn T2 đi xe khách từ xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái xuống đến ngã ba khu Đ, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì xuống xe. Cả ba đi bộ đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày khi đi đến khu Đ, xã L huyện T, tỉnh Phú Thọ thì phát hiện 01 xe máy Honda Dream màu nâu đen, Biển kiểm soát 19D1- 049.72 của anh Đinh Việt C1 dựng ngoài cổng của nhà dân cạnh đường, xe có cắm sẵn chìa khóa ở cổ xe.

Thấy vậy, các bị cáo Hoàng Hữu T, Hoàng Đình H và Hà Văn T2 nảy sinh ý đồ trộm cắp chiếc xe máy trên. Hoàng Đình H và Hà Văn T2 chia nhau đứng cảnh giới còn Hoàng Hữu T trực tiếp vào dắt trộm xe. Khi lấy được xe, cả ba chở nhau về xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Ngày hôm sau, Hoàng Hữu T và Hoàng Đình H mang xe máy đi bán cho Phạm Quang M được số tiền là 2.000.000 đồng và chia nhau tiêu sài cá nhân hết.

Trong quá trình điều tra, và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo đã khai nhận toàn bộ các hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên.

b) Các vấn đề khác của vụ án:

Ngày 13/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Yêu cầu định giá tài sản đối với: 01 chiếc xe máy của anh Đinh Việt C1 theo quy định. Tại Bản Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện T số: 14/KL-ĐGTS ngày 16/5/2024 kết luận: 01 chiếc xe máy BKS 19D1- 049.72 nhãn hiệu Honda Dream sơn màu nâu, đen đã qua sử dụng tri giá: 9.000.000 VNĐ.

Ngày 13/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can đối với Hà Văn T2 và Hoàng Đình H về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 và ngày 27 tháng 06 năm 2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can đề tạm giam đối với Hoàng Hữu T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015; Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Quang M về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với Hà Văn T2, Hoàng Đình H và Phạm Quang M đến nay Cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn đã truy tố và ngày 30 tháng 7 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã xét xử tại bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HSST ngày 30/07/2024 đối với Hà Văn T2, Hoàng Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 và Phạm Quang M về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra bị cáo Hoàng Hữu T đã bỏ trốn khỏi địa phương, nên công an huyện T đã ra lệnh truy nã và sau đó ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị cáo Hoàng Hữu T. Đến ngày 07/09/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T đã bắt giữ đối tượng và ra quyết định đình nã, Quyết định tạm giữ, Quyết định phục hồi điều tra và ra Lệnh tạm giam đối với bị cáo T.

c) Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Tại Bản cáo trạng số: 29/CT – VKSTS ngày 05/11/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Hoàng Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015;
  • Xử phạt Bị cáo Hoàng Hữu T từ 20 đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 07/09/2024).
  • Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo T.
  • Về xử lý vật chứng: Là 01 chiếc xe máy BKS 19D1-049.72 nhãn hiệu Honda Dream, sơn màu nâu, đen đã qua sử dụng. Đến nay, Công an huyện T đã trả lại cho Bị hại là anh Đinh Việt C1, anh C1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự.

- Về án phí: Bị cáo được miễn toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật

Phát biểu của Người bào chữa cho Bị cáo: Tại phiên tòa đã được Hội đồng xét xử làm rõ hành vi phạm tội của Bị cáo nên người bào chữa cho Bị cáo không có quan điểm bào chữa gì. Nhất trí với Bản cáo trạng truy tố Bị cáo và quan điểm luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của kiểm sát viên.

Phát biểu của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Nhất trí với bản cáo trạng của vị đại diện Viện kiểm sát công bố và quan điểm bào chữa của người bào chữa cho Bị cáo và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về hình phạt, Bị hại đã nhận lại tài sản không còn yêu cầu gì khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho Bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo, người bào chữa cho Bị cáo và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho B hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên toà hôm nay, Bị cáo Hoàng Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với lời khai của Bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 29/02/2024 Hoàng Hữu T, Hoàng Đình H cùng Hà Văn T2 đã cùng nhau trộm cắp tài sản của anh Đinh Việt C1 là 01 chiếc xe máy BKS 19D1-049.72 nhãn hiệu Honda Dream, sơn màu nâu, đen đã qua sử dụng. Giá trị chiếc xe là 9.000.000 đồng. Sau khi trộm cắp được tài sản Bị cáo và Hoàng Đình H đã bán cho đối tượng Phạm Quang M, mặc dù biết là tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có tuy nhiên đối tượng M vẫn mua với giá là 2.000.000 đồng. Sau khi bán xe, số tiền có được bị cáo cùng Hoàng Đình H và Hà Văn T2 đã tiêu sài cá nhân hết.

Khi phạm tội Bị cáo đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nhưng vì mục đích vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện.

Hành vi của Bị cáo Hoàng Hữu T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.

Tại khoản 1 Điều 173 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi phạm tội của Bị cáo cần phải được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị xử lý về hành vi trộm cắp tài sản, ngày 05/02/2024 tại quyết định số:15/QĐ-XPHC của Chủ tịch UBND xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản sản nay chưa chấp hành và tại bản án số: 58/2027/HSST ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt Bị cáo 02 năm 6 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, Bị cáo không thấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, thể hiện bản chất lười lao động, thái độ coi thường pháp luật. Ngoài ra, theo kết quả xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T thì Bị cáo thường xuyên không có mặt tại địa phương, không ai biết Bị cáo làm gì, ở đâu. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Bị cáo đã đi khỏi địa phương nhằm trốn tránh sự phát hiện của Cơ quan điều tra. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc theo khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015, là cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, mới đủ điều kiện để Bị cáo cải tạo mình trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Do đó, cần cho Bị cáo được hưởng 01tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015;

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, không chịu học tập, lao động mà lại ham chơi, đua đòi muốn hưởng lợi từ thành quả lao động của người khác. Trước và sau khi thực hiện hành vi phạm tội Bị cáo thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, không ai biết Bị cáo đi đâu, làm gì, nên cần xử Bị cáo hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định và ở mức cao nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS năm 2015 thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Theo kết quả xác minh của cơ quan CSĐT Công an huyện T thì Bị cáo ở chung với bố mẹ, không có tài sản riêng gì có giá trị. Vì vậy, cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo là phù hợp.

[4] Đối với Hà Văn T2, Hoàng Đình H và Phạm Quang M là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có lời khai phù hợp với hành vi phạm tội của Bị cáo.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã xét xử tại bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HSST ngày 30/07/2024 đối với Hà Văn T2, Hoàng Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 và Phạm Quang M về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là anh Đinh Việt C1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

Anh Đinh Việt C1 đã nhận lại tài sản là chiếc xe máy Honda Dream màu sơn nâu đen, BKS 19D1 – 049.72, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đề nghị của Người bào chữa tại phiên tòa phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ kết tội, tội danh:
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015;
    • - Tuyên bố Bị cáo Hoàng Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
    • - Xử phạt Bị cáo Hoàng Hữu T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 07/09/2024.
    • - Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Hoàng Hữu T.
  3. Về xử lý vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản là 01 chiếc xe máy Honda Dream màu sơn nâu đen BKS 19D1- 049.72 nay không còn yêu cầu gì khác.
  4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - CQ CSĐT Công an huyện;
  • - CQ THA dân sự huyện;
  • - UBND nơi b/c thường trú;
  • - Trại tạm CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Côn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Hữu T phạm tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 điều 173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger