|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HSST Ngày: 03 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Liên;
- Ông Lê Văn Tuyển.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Diễm Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Hà Trọng Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 2002; nơi sinh: Huyện T, tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn C, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1977 và bà Lê Thị Bích V, sinh năm 1981; có 02 em; tiền án, tiền sự: Không. Có mặt.
- Bị hại: Huỳnh Lý T, sinh năm 2004 (tỉ lệ thương tích 87%).
Nơi cư trú: Khu phố V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Người đại diện của bị hại: Ông Huỳnh Văn E, sinh năm 1978; bà Trương Thị Thúy H, sinh năm 1984 - là cha mẹ bị hại; cùng nơi cư trú: Khu phố V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.
(Cùng có đơn xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Lê Thị Bích V, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn C, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên – Có mặt;
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn C, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên – Có mặt;
- Anh Lê Văn S, sinh năm: 1998; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên – Vắng mặt;
- Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1956; nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên – Có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Trang T1, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên - Vắng mặt;
- Chị Lê Thị Thúy H2, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên - Vắng mặt;
- Ông Lê Văn H3, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 14/02/2024, sau khi chơi tại nhà bạn ở xã S, huyện T, Nguyễn Ngọc Đ không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 78F1-343.27 có dung tích xilanh 149,8cm³ (do ông Nguyễn Văn P là cha của Đ là chủ sở hữu) chở Huỳnh Lý T đi từ xã S về nhà Đ ở xã H, thị xã Đ để ngủ. Đến khoảng 00 giờ 13 phút ngày 15/02/2024, khi đi đến K + 400 Quốc lộ B thuộc thôn T, xã H, huyện T, do Đ không làm chủ tay lái, đã điều khiển xe tông vào trụ điện bê tông bên đường gây tai nạn. Hậu quả: Đ, T bị thương phải đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện, xe mô tô 78F1-343.27 bị hư hỏng.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 229/KLTTCT-PYPY ngày 24/6/2024, Trung tâm Pháp y tỉnh P kết luận: Huỳnh Lý T bị tổn thương cơ thể tỷ lệ 87%.
Tại phiếu đo nồng độ cồn số 852527 do Phòng C Công an tỉnh P lập lúc 02h48' ngày 15/02/2024: Nồng độ cồn trong trong hơi thở của Nguyễn Ngọc Đ là 0,000 mg/L.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 22/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Xe mô tô biển số 78F1 – 343.27 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá: 6.305.000 đồng (Sáu triệu ba trăm lẻ năm nghìn đồng).
Về vật chứng và đồ vật tạm giữ: Xe mô tô biển số 78F1-343.27 kèm giấy đăng ký xe. 01 quần Jean dài màu xám đen, 01 áo sơ mi ngắn tay màu đen, 01 áo khoác màu xám của Nguyễn Ngọc Đ.
Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 38.000.000 đồng; bị hại, đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị Bích V không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với xe mô tô biển số 78F1-343.27.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 07 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Đ về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng), bị hại, đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị Bích V không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với xe mô tô biển số 78F1-343.27 nên không xét.
Về xử lý vật chứng: Trả lại toàn bộ tài sản cho chủ sở hữu.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, đã bồi thường thiệt hại, xin được giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Bị hại Huỳnh Lý T, Đại diện bị hại ông Huỳnh Văn E, bà Trương Thị Thúy H, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phạm Thị H1 vắng mặt, có đơn xin vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lê Văn S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét: Sự vắng mặt của các đương sự này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ 13 phút ngày 15/02/2024, Nguyễn Ngọc Đ không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 78F1-343.27 có dung tích xilanh 149,8cm³ (do cha mẹ bị cáo là ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị Bích V là chủ sở hữu) chở Huỳnh Lý T đi từ xã S về nhà Đ thuộc xã H, thị xã Đ để ngủ; khi đi đến Km 51 + 400 Quốc lộ B thuộc thôn T, xã H, huyện T, do Đ không làm chủ tay lái, đã điều khiển xe tông vào trụ điện bê tông bên đường gây tai nạn. Hậu quả: Đ, T bị thương phải đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện, xe mô tô 78F1-343.27 bị hư hỏng.
Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa truy tố bị cáo Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác nên cần xử nghiêm minh, đúng quy định, tương xứng mức độ, hành vi của bị cáo.
Tuy nhiên, Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại, bị hại, đại diện bị hại có đơn yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có ông nội là liệt sĩ, bản thân bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự - Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng.
Do đó, chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, đồng thời áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, phòng ngừa tội phạm.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
+ Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng), bị hại, đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét;
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị Bích V không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với xe mô tô biển số 78F1-343.27 nên không xét.
[6] Về vật chứng, đồ vật thu giữ:
[6.1] Đối với chiếc xe mô tô biển số 78F1-343.27 và giấy tờ xe:
Xét: Chiếc xe mô tô biển số 78F1-343.27 đứng tên anh Lê Văn S nhưng hiện đang do vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị Bích V quản lý, sử dụng. Anh Lê Văn S, bà Phạm Thị H1 thống nhất chiếc xe mô tô nêu trên do anh S đứng tên, có nguồn gốc anh S mua của hiệu buôn xe do bà H1 là chủ, sau đó hai bên thống nhất trả lại xe cho bà H1 để bà H1 bán cho người khác, bà H1 đã bán lại chiếc xe này cho ông P. Nay, bà H1, anh S không yêu cầu gì.
Như vậy, đủ cơ sở xác định chiếc xe mô tô nêu trên là tài sản hợp pháp của vợ chồng ông P, bà V.
Ông P, bà V không biết bị cáo Đ điều khiển xe mô tô gây tai nạn nên áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại xe mô tô và giấy tờ xe nêu trên cho vợ chồng ông P, bà V.
[6.2] Đối với 01 quần Jean dài màu xám đen, 01 áo sơ mi ngắn tay màu đen, 01 áo khoác màu xám của Nguyễn Ngọc Đ:
Tại phiên tòa, bị cáo xin nhận lại những tài sản này. Xét thấy những tài sản này là vật dụng cá nhân của bị cáo, các bên đã bồi thường thiệt hại xong, bị hại, đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì. Vì vậy, bị cáo xin nhận lại tài sản là phù hợp nên chấp nhận trả lại cho bị cáo.
[7] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lê Văn S, bà Phạm Thị H1 thống nhất chiếc xe mô tô biển số 78F1-343.27 do anh S đứng tên, đã bán cho ông P. Nay, bà H1, anh S không yêu cầu gì nên không xét.
[8] Đối với việc bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 78F1-343.27 là tài sản của ông P, bà V (cha mẹ bị cáo) nhưng ông P, bà V không biết việc bị cáo tự ý lấy xe đi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xem xét là đúng quy định.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Ngọc Đ có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Khi bị cáo Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng, đồ vật thu giữ: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- + Trả lại cho ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị Bích V chiếc xe mô tô biển số 78F1-343.27 và giấy tờ xe (Xe hiện đang đứng tên Lê Văn S)
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc Đ: 01 quần Jean dài màu xám đen, 01 áo sơ mi ngắn tay màu đen, 01 áo khoác màu xám.
Vật chứng có đặc điểm tại biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/11/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa.
Về án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phải chịu: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, Đại diện bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày niêm yết Bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Huệ |
Bản án số 29/2024/HSST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 29/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
