Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 29/2024/HNGĐ-ST.

Ngày 28-11-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Anh Quang;

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Giang
  • 2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 169/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn” Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/11/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Hồng M, sinh năm 1982; Nơi thường trú: Khu H, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Chỗ ở hiện nay: Khu E, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
  2. Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1976; Nơi thường trú: Khu H, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Hoàng Thị Hồng M trình bày: Chị và anh Bùi Văn T có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 03/5/2013 tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống tại khu H, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T ham chơi cờ bạc, có quan hệ bất chính với người khác nên không quan tâm đến vợ con, anh T thường xuyên đánh chửi, hành hung và doạ giết chị. Chị và anh T sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Hiện nay chị đang ở nhà bố mẹ đẻ tại khu E, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Khi sống ly thân chị và anh T không ai quan tâm đến ai, anh T thường xuyên đến nhà bố mẹ đẻ chị chửi bới và đe doạ chị. Nay chị M thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị M được ly hôn với anh T. Về con chung: Chị M xác định vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Bùi Hoàng Bảo H, sinh ngày 28/7/2014. Khi ly hôn chị M đề nghị Toà án giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu H. Chị M không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Về tài sản chung, về công nợ, về công sức đóng góp: Chị M không đề nghị Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn anh Bùi Văn T trình bày tại bản tự khai và tại phiên toà như sau: Anh mong muốn được đoàn tụ với chị M do con gái anh còn nhỏ và con gái anh không muốn bố mẹ bỏ nhau. Anh chấp nhận ly thân với chị M, không chấp nhận ly hôn với chị M. Về con chung: Anh T xin được nuôi con và không đề nghị chị M phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, về công nợ, về công sức đóng góp: Anh T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác minh và làm việc tại chính quyền địa phương nơi chị M, anh T cư trú để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Hồng M. Đề nghị xử cho chị Hoàng Thị Hồng M được ly hôn anh Bùi Văn T. Đề nghị giao cháu Bùi Hoàng Bảo H, sinh ngày 28/7/2014 cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị M không yêu cầu. Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và thăm nom con chung. Về tài sản chung, về nợ chung, công sức: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Buộc chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn là anh Bùi Văn T có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thụ lý, xét xử là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự có mặt của đương sự trước khi mở phiên tòa: Anh Bùi Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia các buổi làm việc tại Tòa án, để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh T vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hoà giải được. Tuy nhiên ngày 19/11/2024 anh T đến Toà án để trình bày ý quan điểm giải quyết vụ án dù không được Toà án triệu tập đến làm việc. Tại phiên tòa, anh T có mặt và trình bày quan điểm về vụ án như nêu ở trên

- Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Hồng M và anh Bùi Văn T kết hôn ngày 03/5/2013 tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, việc kết hôn là tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị M trình bày đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T ham chơi cờ bạc, có quan hệ bất chính với người khác nên không quan tâm đến vợ con, anh T thường xuyên đánh chửi, hành hung và doạ giết chị, chị và anh T sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay và hiện nay chị đang ở nhà bố mẹ đẻ tại khu E, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, khi sống ly thân chị và anh T không ai quan tâm đến ai, anh T thường xuyên đến nhà bố mẹ đẻ chị chửi bới và đe doạ chị. Nay chị M thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Anh T không chấp nhận ly hôn với chị M mà chỉ chấp nhận ly thân với chị M. Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị M thể hiện rõ trong lời khai của chị M và anh T. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, anh T không đồng ý ly hôn nhưng anh T không có bất kỳ động thái và giải pháp nào để giải quyết mâu thuẫn, vun đắp cuộc sống hôn nhân. Tòa án đã báo gọi anh T đến Tòa án để hòa giải từ đó hàn gắn mối quan hệ vợ chồng những anh T vắng mặt không lý do trong các buổi hòa giải. Từ đó thể hiện anh T cũng không có thiện chí muốn vợ chồng về đoàn tụ với nhau. Mặt khác, qua xác minh tại UBND xã T, H liên hiệp phụ nữ Trạm Thản cung cấp: Chị M và anh T trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn. Qua nắm bắt được xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T ham chơi, thường xuyên uống rượu về nhà đánh chửi vợ con, thường xuyên chửi bới, doạ giết vợ con. Chị M chuyển về ở nhà bố mẹ đẻ tại khu E, xã T từ đó vợ chồng sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ.

Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị M đề nghị xin ly hôn với anh T là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Chị M và anh T có 01 con chung là cháu Bùi Hoàng Bảo H, sinh ngày 28/7/2014. Khi ly hôn chị M đề nghị Toà án giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu H. Chị M không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Anh T cũng có nguyện vọng được nuôi cháu H và không đề nghị chị M cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Cháu H còn nhỏ tuổi và là con gái nên cháu cần có sự chăm sóc của người mẹ. Mặt khác cháu H có mong muốn và nguyện vọng được ở cùng với chị M để chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; chị M cũng có đủ điều kiện để nuôi con. UBND xã T và Hội liên hiệp phụ nữ Trạm Thản cũng có quan điểm thể hiện đề nghị Toà án xem xét đến mong muốn và nguyện vọng của cháu H để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ và trẻ em. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu H cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị M không yêu cầu.

- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị M, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 của luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Hồng M.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Hồng M ly hôn với Bùi Văn T

- Về con chung: Giao cháu Bùi Hoàng Bảo H, sinh ngày 28/7/2014 cho chị Hoàng Thị Hồng M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H thành niên, lao động tự túc được.

Anh Bùi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M do chị M không yêu cầu.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Không đặt ra giải quyết.

[2] Về án phí: Chị Hoàng Thị Hồng M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị M đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà số 0001332 ngày 11/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

[3]. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án anh T được quyền kháng cáo; chị M được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phù Ninh;
  • - CCTHADS huyện Phù Ninh;
  • - UBND xã Trạm Thản, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu HS-VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Anh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger