TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày 26-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Diện;
Bà Bùi Thị Thanh Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Anh Hào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Cao T, (Tên gọi khác: T1), sinh năm 1994, tại: Lâm Đồng; nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Bá H và con bà Nguyễn Thị L; Vợ, con chưa có.
Tiền án: 01. Ngày 18/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên xử phạt 06 tháng tù, buộc bồi thường số tiền 21.012.700 đồng, nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm là 1.050.635 đồng về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” bị cáo đã thi hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành số tiền bồi thường và án phí.
Tiền sự: 05. Ngày 07/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, chấp hành xong vào ngày 29/01/2022; Ngày 30/8/2022, bị cáo bị Công an xã Đ, huyện C xử phạt tiền từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành nộp phạt vào ngày 30/8/2022; Ngày 26/9/2022, bị Ủy ban nhân dân thị trấn C phạt 4.000.000 đồng về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản của tổ chức, bị cáo chưa nộp phạt; Ngày 30/9/2022, bị cáo bị Công an huyện C xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo chưa nộp phạt; Ngày 16/11/2022, Ủy ban nhân dân thị trấn C áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn với thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 16/5/2023. Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước do vậy cần có một mức án nghiêm cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Vườn quốc gia C, địa chỉ: Xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Người đại diện theo ủy quyền ông Huỳnh Văn T2, Chức vụ: Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm V (Theo văn bản ủy quyền ngày 25/11/2024). Có mặt.
- Bà Đỗ Thị Cao Quỳnh T3, sinh năm: 1991, nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bà Đỗ Thị Cẩm T4, sinh năm: 1987, nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 17/10/2023, Trạm Kiểm lâm Tiên Hoàng thuộc Hạt kiểm lâm V tổ chức tuần tra rừng khu vực có tọa độ: 0466363 – 1295218, tiểu khu E do Vườn quốc gia C quản lý, là rừng đặc dụng, thuộc địa giới hành chính xã Đ, huyện C, tỉnh Lâm Đồng, phát hiện Đỗ Cao T, sinh ngày 22/02/1994 trú tại Tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lâm Đồng đang thực hiện hành vi vận chuyển lâm sản trái phép.
Quá trình điều tra xác định: Trước đó, Đỗ Cao T có đi vào Vườn quốc gia C thuộc địa giới hành chính xã Đ để tắm thác nước, T thấy có một số đoạn gỗ đã khô lục, sam bọng còn sót lại ven đồi, không biết ai đã cất hạ trước đó, T biết đó là gỗ Cẩm lai. Do cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 16 giờ ngày 17/10/2023 T điều khiển xe mô tô biển số 49T9 - 3398 đi từ thôn B, xã Đ Thượng qua các rẫy điều, cà phê của người dân và đi đến vị trí có số đoạn gỗ Cẩm lai nói trên ở tọa độ 0468092 – 1299682, tiểu khu E do Vườn quốc gia C quản lý là rừng tự nhiên, rừng đặc dụng thuộc địa giới hành chính xã Đ. Tại đây, T nhặt được 03 đoạn gỗ Cẩm lai tình trạng lục lõi, sam bọng, có hình thù phức tạp, T mang vác lên xe mô tô và đi đến khu vực rẫy điều phía sau nhà ông H1 thuê, thôn B cất giấu, rồi vào nhà ông H1 nhậu. Đến khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nói trên đến nơi đã cất giấu, đưa số lên xe để vận chuyển về thị trấn C để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, trên đường đi thì bị lực lượng Kiểm lâm thuộc Trạm Kiểm lâm Tiên Hoàng tuần tra, phát hiện, bắt quả tang tạm giữ cùng tang vật.
Sau khi bị khởi tố, vụ án đang trong quá trình điều tra, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/3/2024, Đỗ Cao T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, BKS: 60B4- 248.66 đi từ thị trấn C lên xã Đ. Khi đến thôn Đ, xã Đ, T dừng xe mô tô và đi vào rừng thuộc Vườn quốc gia C để hái rau nhíp, quá trình hái rau nhíp tại tọa độ 0466566 – 1595169, tiểu khu E, do Vườn quốc gia C quản lý là rừng tự nhiên, rừng đặc dụng thuộc địa giới hành chính xã Đ, T nhìn thấy 06 đoạn gỗ dưới bụi cây, tình trạng đã bị khô lục, sam bọng rồi T mang vác lên xe mô tô vận chuyển về hướng thôn B, xã Đ mang về nhà trưng bày thì bị Trạm Kiểm lâm Bù Sa tuần tra, phát hiện kiểm tra tạm giữ cùng tang vật.
Quá trình làm việc tại Cơ quan Công an, Đỗ Cao T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại bản kết luận kiểm tra số /Nº: 25/23 ngày 14/12/2023 và bản kết quả giám định số /Nº: 07/24 ngày 23/5/2024 của Viện công nghiệp gỗ và nội thất Trường Đại học L1 kết luận: 03 mẫu gỗ gửi giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 04/QĐ-TCGĐ ngày 04/12/2023 và 06 mẫu gỗ gửi giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 01/QĐ-TCGĐ ngày 04/5/2024 đều là gỗ Cẩm lai, tên khoa học D; cấp độ nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IIA trong danh mục kèm theo Nghị định số: 84/2021/NĐ-CP ngày 22/09/2021 của Chính phủ về quản lý và danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm từ rừng Việt Nam.
Căn cứ Quyết định số: 2566/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh L về việc quy định giá các loại gỗ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, 03 (ba) phần gốc rễ gỗ Cẩm lai tính giá trị 42 kg gỗ Cẩm lai, có khối lượng 0.039 m³ thành tiền là 471.510 đồng.
Căn cứ văn bản số 37STC - GCS ngày 27/2/2024 của Sở Tài chính tỉnh L về việc xác định giá các loại gỗ, Quyết định số: 40/QĐ-UBND ngày 05/8/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh L quy định bảng giá tính thuế tài nguyên và bổ số quy đổi một số tài nguyên trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, 06 (sáu) lóng gỗ Cẩm lai tính giá trị 77 kg gỗ Cẩm lai, có khối lượng 0.071 m³ thành tiền là 745.500 đồng.
Khối lượng gỗ và giá trị gỗ chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, ngày 18/12/2012, Đỗ Cao T bị Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên xử phạt 06 tháng tù, buộc bồi thường số tiền 21.012.700 đồng, nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm là 1.050.635 đồng về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” nhưng bị cáo chưa chấp hành phần trách nhiệm dân sự và đóng các khoản án phí là chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục vi phạm nên hành vi vận chuyển lâm sản trái phép của Đỗ Cao T vào ngày 17/10/2023 và ngày 19/3/2024 đã cấu thành tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản theo quy định tại khoản 1, Điều 232 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Vườn quốc gia C không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Tang vật thu giữ gồm:
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu DAMSEL, biển kiểm soát 49T9 - 3398, số máy 4D100803, số khung vdpwcHoB4dp100803, xe màu đen, đã cũ và qua sử dụng.
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển số 60B4 - 248.66, số máy: 5C641081205, số khung: RLCS5C641DY081205, xe màu đen, đã cũ.
- - 01 (một) hộp giấy đựng 03 mẫu gỗ Cẩm lai sau khi được giám định viên lấy mẫu để giám định.
- - 03 (ba) phần gốc rễ gỗ Cẩm lai đã được trích xuất mẫu gỗ vào ngày 28/11/2023 để thực hiện công tác giám định.
- - 01 (một) hộp giấy đựng 06 mẫu gỗ Cẩm lai sau khi được giám định viên lấy mẫu để giám định.
- 06 (sáu) lóng gỗ Cẩm lai (D), là loại thực vật rừng thuộc danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA, lục lõi, sam bọng, có hình thù phức tạp, đã được trích xuất mẫu gỗ vào ngày 27/3/2024 để thực hiện công tác giám định.
Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSC T ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên truy tố bị cáo Đỗ Cao T về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận đã thực hiện các hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.
Đại diện theo ủy quyền của Vườn quốc gia C cho rằng 09 lóng gỗ Cẩm lai là gỗ phần rìa đã bị sam mục bọng và được thu giữ kịp thời; quá trình vào lấy số gỗ này bị cáo không gây thiệt hại nào khác đến tài nguyên rừng nên không yêu cầu bị cáo bồi thường phần trách nhiệm dân sự.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Cẩm T4 cho rằng bị cáo mượn xe để làm phương tiện đi lại, bà không biết bị cáo lấy xe vận chuyển gỗ trái phép nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bà 0 (một) xe máy màu đen nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển số 60B4 - 248.66, số máy: 5C641081205, số khung: RLCS5C641DY081205.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Cao Quỳnh T3 trình bày bà được ông Phan Văn N, nơi cư trú tại Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C cho 01 xe máy để sử dụng vào khoảng năm 2023, bị cáo mượn xe để làm phương tiện đi lại, bà không biết bị cáo lấy xe vận chuyển gỗ trái phép nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bà 0 (một) xe mô tô màu đen nhãn hiệu DAMSEL, biển kiểm soát 49T9 - 3398, số máy 4D100803, số khung vdpwcHoB4dp100803.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại, không có người bị hại, không có gì thay đổi, hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản”. Do đó, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng điểm m khoản 1, Điều 232; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, khoản 1, Điều 52 Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Do bị cáo làm nông không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Đề nghị trả lại cho bà Đỗ Thị Cao Quỳnh T3 01 (một) xe mô tô màu đen nhãn hiệu DAMSEL, biển kiểm soát 49T9 - 3398, số máy 4D100803, số khung vdpwcHoB4dp100803 đã cũ và qua sử dụng.
Đề nghị trả lại cho bà Đỗ Thị Cẩm T4 01 (một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển số 60B4 - 248.66, số máy: 5C641081205, số khung: RLCS5C641DY081205, xe màu đen, đã cũ.
Tang vật của vụ án có giá trị sử dụng đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước gồm: 03 (ba) phần gốc rễ gỗ Cẩm lai đã được trích xuất mẫu gỗ vào ngày 28/11/2023 để thực hiện công tác giám định; 06 (sáu) lóng gỗ Cẩm lai (D), là loại thực vật rừng thuộc danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA, lục lõi, sam bọng, có hình thù phức tạp, đã được trích xuất mẫu gỗ vào ngày 27/3/2024 để thực hiện công tác giám định; 01 (một) hộp giấy đựng 03 mẫu gỗ Cẩm lai sau khi được giám định viên lấy mẫu để giám định; 01 (một) hộp giấy đựng 06 mẫu gỗ Cẩm lai sau khi được giám định viên lấy mẫu để giám định.
Bị cáo không tranh luận bào chữa gì; trong phần lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rõ việc khai thác gỗ trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi nên vào khoảng 16 giờ ngày 17/10/2023 bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 49T9 - 3398 đi từ thôn B, xã Đ Thượng qua các rẫy điều, cà phê của người dân và đi đến vị trí có số đoạn gỗ Cẩm lai ở tọa độ 0468092 – 1299682, tiểu khu E do Vườn quốc gia C quản lý là rừng tự nhiên, rừng đặc dụng thuộc địa giới hành chính xã Đ. Tại đây, bị cáo nhặt được 03 đoạn gỗ Cẩm lai có khối lượng 0.039 m³ có giá trị là 471.510 đồng để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau khi bị khởi tố, vụ án đang trong quá trình điều tra, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/3/2024, bị cáo đi vào rừng thuộc Vườn quốc gia C để hái rau nhíp ăn, quá trình hái rau nhíp tại tọa độ 0466566 – 1595169, tiểu khu E, do Vườn quốc gia C quản lý thì bị cáo nhìn thấy 06 đoạn gỗ dưới bụi cây có khối lượng 0.071 m³ có giá trị là 745.500 đồng, tiếp tục mang vác lên xe mô tô vận chuyển về nhà để trưng bày.
Khối lượng gỗ và giá trị gỗ chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, ngày 18/12/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên xử phạt 06 tháng tù, về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục vi phạm nên hành vi vận chuyển lâm sản trái phép vào ngày 17/10/2023 và ngày 19/3/2024 đã cấu thành tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản theo quy định tại điểm m, khoản 1, Điều 232 Bộ luật hình sự.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản” theo qui định tại điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo: Xét hành vi phạm tội của bị cáo không vi phạm vào các tình tiết định khung tăng nặng nào tại Điều 232 của Bộ luật Hình sự nên bị cáo chỉ bị xét xử theo điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Sau khi bị khởi tố, vụ án đang trong quá trình điều tra hành vi vận chuyển lâm sản vào ngày 17/10/2023 thì vào ngày 19/3/2024, bị cáo tiếp tục có hành vi vận chuyển trái phép lâm sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trước đó vào ngày 07/12/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, chấp hành xong vào ngày 29/01/2022; Ngày 30/8/2022, bị cáo bị Công an xã Đ, huyện C xử phạt tiền từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành nộp phạt vào ngày 30/8/2022; Ngày 26/9/2022, bị Ủy ban nhân dân thị trấn C phạt 4.000.000 đồng về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản của tổ chức, bị cáo chưa nộp phạt; Ngày 30/9/2022, bị cáo bị Công an huyện C xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo chưa nộp phạt; Ngày 16/11/2022, Ủy ban nhân dân thị trấn C áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn với thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 16/5/2023. Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước do vậy cần có một mức án nghiêm cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Qua quá trình điều tra và kết quả thẩm vấn tại phiên tòa thể hiện bị cáo Đỗ Cao T không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 điều 232 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Vườn Quốc gia C không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về biện pháp tư pháp:
Tang vật của vụ án có giá trị sử dụng đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước gồm: 03 (ba) phần gốc rễ gỗ Cẩm lai đã được trích xuất mẫu gỗ vào ngày 28/11/2023 để thực hiện công tác giám định; 06 (sáu) lóng gỗ Cẩm lai (D), là loại thực vật rừng thuộc danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA, lục lõi, sam bọng, có hình thù phức tạp, đã được trích xuất mẫu gỗ vào ngày 27/3/2024 để thực hiện công tác giám định; 01 (một) hộp giấy đựng 03 mẫu gỗ Cẩm lai sau khi được giám định viên lấy mẫu để giám định; 01 (một) hộp giấy đựng 06 mẫu gỗ Cẩm lai sau khi được giám định viên lấy mẫu để giám định.
Việc bị cáo mượn xe để làm phương tiện nhưng sau đó lấy xe đi vận chuyển lâm sản trái phép bà Đỗ Thị Cao Quỳnh T3, bà Đỗ Thị Cẩm T4 không biết, việc bà T3, bà T4 xin trả lại tài sản để làm phương tiện đi lại nên Hội đồng xét xử xét thấy, việc trả lại cho bà Đỗ Thị Cao Quỳnh T3 01 (một) xe mô tô màu đen nhãn hiệu DAMSEL, biển kiểm soát 49T9 - 3398, số máy 4D100803, số khung vdpwcHoB4dp100803 và bà Đỗ Thị Cẩm T4 01 (một) xe máy màu đen nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển số 60B4 - 248.66, số máy: 5C641081205, số khung: RLCS5C641DY081205 là phù hợp.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Cao T (Tên gọi khác T1) phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản”.
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1, Điều 52 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Cao T (Tên gọi khác T1) 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/4/2024
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước gồm: 03 (ba) phần gốc rễ gỗ Cẩm lai đã được trích xuất mẫu gỗ vào ngày 28/11/2023 để thực hiện công tác giám định; 06 (sáu) lóng gỗ Cẩm lai (D), là loại thực vật rừng thuộc danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA, lục lõi, sam bọng, có hình thù phức tạp, đã được trích xuất mẫu gỗ vào ngày 27/3/2024 để thực hiện công tác giám định; 01 (một) hộp giấy đựng 03 mẫu gỗ Cẩm lai sau khi được giám định viên lấy mẫu để giám định; 01 (một) hộp giấy đựng 06 mẫu gỗ Cẩm lai sau khi được giám định viên lấy mẫu để giám định.
Trả lại cho bà Đỗ Thị Cao Quỳnh T3 01 (một) xe mô tô màu đen nhãn hiệu DAMSEL, biển kiểm soát 49T9 - 3398, số máy 4D100803, số khung vdpwcHoB4dp100803 đã cũ và qua sử dụng.
Trả lại cho bà Đỗ Thị Cẩm T4 01 (một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển số 60B4 - 248.66, số máy: 5C641081205, số khung: RLCS5C641DY081205, xe màu đen, đã cũ.
Số tang vật trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Tiên theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/6/2024 và ngày 24/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Tiên.
Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hiền |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm các quy định về khai thác bảo về rừng và quản lý lâm sản
