Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/DSST

Ngày 30 - 9-2024

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Hải Yến

Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hồng

Ông Hoàng Văn Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Sớm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 và 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐ - ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 (V2)

Địa chỉ: Số H, L, phường L, quận Đ, Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, Chức vụ: Chủ tịch HĐQT V2

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Đỗ Hoàng L – Giám đốc trung tâm thu hồi nợ KHDN và XLN Pháp lý (văn bản uỷ quyền số 58/2023/UQN-CTQT ngày 12/7/2023)

Địa chỉ: Tầng G, Tòa nhà V, số G D, Cầu G, thành phố Hà Nội

Người được uỷ quyền lại:

- Ông Đinh Trần Đại N – Trưởng bộ phận XLN- Phòng XLN KHCN miền B (vắng mặt)

- Ông Bùi Nguyên T – Cán bộ XLN – Phòng XLN KHCN miền B (vắng mặt).

- Ông Lương Trung V - Cán bộ XLN – Phòng XLN KHCN miền Bắc (có mặt ngày 20/9, vắng mặt ngày 30/9).

- Bà Trần Thị Hải Y - Cán bộ XLN – Phòng XLN KHCN miền B (có mặt).

- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1995 và bà Phạm Thị T2, sinh năm 1994; đều trú tại: Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, người đại diện cho nguyên đơn trình bày: Ông Phạm Ngọc T1 và bà Phạm Thị T2 vay của V2 tổng số tiền là 775.468.497 đồng theo Hợp đồng cho vay số LN2105103713602 ký ngày 20/5/2021 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320 ký ngày 12/6/2021 cùng các văn bản tín dụng kèm theo.

+ Hợp đồng cho vay số LN2105103713602 ký ngày 20/5/2021: Số tiền vay 740.000.000 đồng; thời hạn vay 84 tháng tính từ ngày tiếp theo của Bên ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay; mục đích sử dụng vốn: thanh toán tiền mua xe ô tô hiệu VINFAST LUX A 2.0 bản tiêu chuẩn sản xuất mới 100%. Lãi suất trong hạn: lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 9%/năm (Lãi suất được tính theo năm là 365 ngày), mức lãi suất này sẽ được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày 21/5/2021, hết thời hạn 12 tháng lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/ 01 lần vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7 và 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 21/5/2022, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/7/2022. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 84 tháng được bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại webside: www.V3.com.vncó hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 4,6%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng từ thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

+ Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320 ký ngày 12/6/2021: Số tiền vay 35.468.497 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích sử dụng vồn: tiêu dùng.

+ Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên: 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, số khung RPXAB1RSFMV002978; Số máy 210840005VF20SED; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 17003412 được cấp bởi Phòng C công an tỉnh T ngày 17/5/2021; biển kiểm soát 17A-238.79 mang tên Phạm Ngọc T1 theo Hợp đồng thế chấp số LN2105103713602 ngày 20/5/2021 giữa V2 với ông T1, bà T2.

Quá trình thực hiện hợp đồng:

Đối với Hợp đồng cho vay số LN2105103713602: tính từ ngày 21/5/2021 đến ngày 27/01/2023, ông T1, bà T2 đã trả được V2 số tiền 307.194.640 đồng (bao gồm trả nợ gốc là 183.612.384 đồng; trả nợ lãi là 123.582.256 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1, bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V3 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 15/3/2023 theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, tạm tính đến ngày 30/9/2024 số tiền ông T1, bà T2 còn nợ V3 là: nợ gốc: 556.387.616 đồng; nợ lãi 171.854.153 đồng. Tổng cộng 728.241.769 đồng.

Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320: quá trình thực hiện hợp đồng ông T1, bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V3 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 15/3/2022 theo thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng, tạm tính đến ngày 30/9/2024, số tiền ông T1, bà T2 còn nợ V3 là: nợ gốc 35.468.497 đồng; nợ lãi 38.975.961 đồng, tổng cộng là 74.444.458 đồng.

V3 yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề sau:

  • Buộc ông Phạm Ngọc T1, bà Phạm Thị T2 phải trả cho V3 số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là 802.686.227 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 đến ngày thực trả theo đúng mức lãi suất thoả thuận theo hợp đồng cho vay số LN2105103713602 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320.
  • Trường hợp ông T1, bà T2 không trả nợ đầy đủ cho V3, V3 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho V3, cụ thể: 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, só khung RPXAB1RSFMV002978; Số máy 210840005VF20SED; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 17003412 được cấp bởi Phòng C công an tỉnh T ngày 17/5/2021; biển kiểm soát 17A-238.79 mang tên Phạm Ngọc T1 theo Hợp đồng thế chấp số LN2105103713602 ngày 20/5/2021 giữa V2 với ông T1, bà T2.
  • Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm của ông T1, bà T2 vẫn không đủ để thanh toán cho nghĩa vụ tại V3, ông T1, bà T2 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho V3 cho tới khi thực tế thanh toán xong toàn bộ khoản vay.
  • V3 xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, buộc ông T1, bà T2 phải trả tiền phạt chậm trả lãi.

Bị đơn ông Phạm Ngọc T1, bà Phạm Thị T2 có hộ khẩu thường trú tại Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình nhưng ông T1, bà T2 không có mặt tại địa phương nên Toà án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải phát biểu ý kiến:

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ theo quy định của pháp luật.
  • Về nội dung: áp dụng các Điều 26, 147 BLTTDS, Điều 463, 466 BLDS, đề nghị: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng:
    • - Buộc ông Phạm Ngọc T1, bà Phạm Thị T2 phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc: 556.387.616 đồng; nợ lãi 171.854.153 đồng. Tổng cộng 728.241.769 đồng theo Hợp đồng tín dụng số LN2105103713602. Nếu ông T1, bà T2 không trả thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN2105103713602 ngày 20/5/2021 giữa V2 với ông T1, bà T2.
    • - Buộc ông T1 phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 35.468.497 đồng; nợ lãi 38.975.961 đồng, tổng cộng là 74.444.458 đồng theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật: ông T1, bà T2 có hộ khẩu thường trú tại khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Theo kết quả xác minh ngày 06/8/2024 tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình thì ông T1, bà T2 có hộ khẩu thường trú tại Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình và sinh sống cùng mẹ đẻ nhưng hiện tại không sinh sống tại địa chỉ này. Toà án đã tiến hành ghi lời khai của bà Phan Thị H (mẹ đẻ anh T1) nhưng bà H cũng không biết hiện nay anh T1, chị T2 ở đâu. Như vậy, bị đơn ông T1, bà T2 thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật làm cho người khởi kiện không biết địa chỉ nhằm mục đích che dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ với người khởi kiện nên căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự xác định người bị kiện cố tình giấu địa chỉ và tiến hành giải quyết theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Hợp đồng cho vay số LN2105103713602 ngày 20/5/2021 được ký kết giữa Ngân hàng với ông T1, bà T2 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên. Sau khi ký kết hợp đồng, ông T1, bà T2 đã có Giấy đề nghị giải ngân ngày 20/5/2021, đề nghị giải ngân số tiền 740.000.000 đồng; phương thức giải ngân: chuyển khoản vào tài khoản của bên thụ hưởng là Công ty TNHH Đ, số tài khoản 113002858032 Ngân hàng TMCP Đ1, chi nhánh tỉnh N, nội dung: Thanh toán tiền mua xe ô tô Vinfast. Ngày 21/5/2021, V3 đã tiến hành giải ngân số tiền 740.000.000 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1, bà T2 đã trả được Ngân hàng số tiền 307.194.640 đồng (bao gồm trả nợ gốc là 183.612.384 đồng; trả nợ lãi là 123.582.256 đồng). Sau đó, ông T1, bà T2 đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết. Tính đến ngày 30/9/2024, tổng số tiền ông T1, bà T2 còn nợ Ngân hàng là 728.241.769 đồng. Trong đó, nợ gốc là 556.387.616 đồng; lãi quá hạn 171.854.153 đồng. Cần buộc ông T1, bà T2 phải trả cho Ngân hàng.

[2.2] Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320: đây là hợp đồng được ký kết giữa cá nhân ông T1 với ngân hàng T3 Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử; hạn mức thẻ tín dụng đề nghị là 37.000.000 đồng, hạn mức thẻ tín dụng không có tài sản bảo đảm và mục đích cấp tín dụng là phục vụ nhu cầu đời sống. Lãi suất 20%/năm. Quá trình thực hiện hợp đồng ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V3 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 15/3/2022 theo thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng, tạm tính đến ngày 30/9/2024, số tiền ông T1 còn nợ V3 là: nợ gốc 35.468.497 đồng; nợ lãi 38.975.961 đồng; tổng cộng là 38.975.961 đồng. Xét thấy, hợp đồng này do một mình ông T1 ký với ngân hàng, mục đích tiêu dùng cá nhân, không có cơ sở để xác định việc chi tiêu chung cho gia đình, vì vậy, xác định đây là nợ riêng của ông T1 và ông T1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng.

[2.3] Về lãi suất: Đối với khoản tiền lãi của Hợp đồng cho vay số LN2105103713602 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320; Hội đồng xét xử thấy: Đối với lãi trong hạn và lãi quá hạn các bên thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thẻ tín dụng là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, cần chấp nhận.

[2.4] Về hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay, giữa Ngân hàng và ông T1, bà T2 đã ký Hợp đồng thế chấp số LN2105103713602 ngày 20/5/2021, thế chấp 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, BKS kiểm soát 17A-238.79 mang tên Phạm Ngọc T1 với bên thế chấp là ông T1, bà T2 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng vào ngày 21/5/20121. Hợp đồng thế chấp tuân thủ đúng quy định pháp luật về mặt nội dung cũng như hình thức nên Ngân hàng hoàn toàn có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp nếu ông T1, bà T2 không trả tiền. Xét thấy, Điều 2 Hợp đồng thế chấp xác định nghĩa vụ được bảo đảm và thời hạn thế chấp: đảm bảo cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, tiền bồi thường thiệt hại .... và tất cả các nghĩa vụ liên quan khác của bên thế chấp đối với bên ngân hàng phát sinh từ tất cả các hợp đồng tín dụng, Hợp đồng cấp bảo lãnh, Văn kiện tín dụng ký giữa bên Ngân hàng và bên thế chấp trong khoảng thười gian từ ngày 20/5/2021 đến ngày 20/5/2024. Phía ngân hàng cho rằng Hợp đồng thế chấp trên để đảm bảo cho cả hai khoản vay của Hợp đồng cho vay số LN2105103713602 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320. Xét thấy, Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320 ký giữa cá nhân ông T1 với V3, có xác định hạn mức thẻ tín dụng không có tài sản bảo đảm và ông T1 cũng không phải là bên thế chấp theo Hợp đồng thế chấp ngày 20/5/2021, nên cần xác định Hợp đồng thế chấp số LN2105103713602 ngày 20/5/2021 chỉ đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng cho vay số LN2105103713602 ngày 20/5/2021. Đối với khoản vay theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320 là khoản vay không có tài sản bảo đảm.

[2.5] Đối với yêu cầu của Ngân hàng, yêu cầu ông T1, bà T2 phải trả tiền lãi phạt chậm trả lãi, tại phiên toà đại diện cho nguyên đơn xin rút yêu cầu này, xét việc rút yêu cầu là tự nguyện, cần chấp nhận và đình chỉ xét xử.

[3] Từ những phân tích trên có cơ sở để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận một phần nên nguyên đơn phải chịu án phí phần không được chấp nhận. Ông Phạm Ngọc T1 và bà Phạm Thị T2 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm e khoản 1 Điều 192; khoản 2 Điều 244; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 293; Điều 298; Điều 299; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí phí Toà án.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V1 (V3):
    1. Buộc ông Phạm Ngọc T1, bà Phạm Thị T2 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng V3 theo Hợp đồng tín dụng số LN2105103713602 ngày 20/5/2021 tính đến ngày 30/9/2024 tổng số tiền là 728.241.769 đồng, trong đó nợ gốc 556.387.616 đồng, lãi quá hạn 171.854.153 đồng.
    2. Trường hợp ông T1, bà T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì V3 có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho V3, tài sản là quyền sở hữu, sử dụng chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, số khung RPXAB1RSFMV002978; Số máy 210840005VF20SED; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 17003412 được cấp bởi Phòng C công an tỉnh T ngày 17/5/2021; biển kiểm soát 17A-238.79 mang tên Phạm Ngọc T1 theo Hợp đồng thế chấp số LN2105103713602 ngày 20/5/2021 giữa V2 với ông T1, bà T2.
    3. Trường hợp số tiền thu được sau khi phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ ngân hàng cho đến khi tất toán.

    4. Buộc ông Phạm Ngọc T1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng V3 tính đến ngày 30/9/2024 tổng số tiền là 74.444.458 đồng, trong đó: nợ gốc 35.468.497 đồng; nợ lãi 38.975.961 đồng theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320 ngày 12/6/2021.
    5. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng (hợp đồng cho vay), Hợp đồng thẻ tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên phải thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    6. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Ngân hàng buộc ông T1, bà T2 phải chịu lãi phạt chậm trả lãi.
  3. Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, yêu cầu có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN2105103713602 ngày 20/5/2021 để thanh toán khoản nợ theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320 ngày 12/6/2021.
  4. Về án phí: Ông Phạm Ngọc T1, bà Phạm Thị T2 phải chịu 33.129.670 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, ông Phạm Ngọc T1 phải chịu thêm 3.722.222 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản nợ phải trả cho Hợp đồng thẻ tín dụng số 189-P-2480320 ngày 12/6/2021.
  5. Ngân hàng V3 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí, đối trừ số tiền 17.280.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0002715 ngày 18/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, trả lại V2 16.980.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  6. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng V3 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Ngọc T1, bà Phạm Thị T2 vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải;
  • - Chi cục Thi hành án huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lương Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/DSST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 29/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP V - Phạm Ngọc Th, Phạm Thị Th1: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger