Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HỒNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/DS-ST

Ngày 04-9-2024

“V/v Tranh chấp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Quyên;

Bà Bùi Nguyễn Tuyết Minh.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Liếng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng tham gia phiên tòa: Ông

Lê Công Hậu – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 297/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1965

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đặng Thị H là: Chị Đỗ Thị Ngọc O, sinh năm 1986, địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Giấy ủy quyền ngày 11/7/2023);

- Bị đơn: Bà Đặng Thanh D, sinh năm 1972

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Bà Lê Thị M (Mỹ), sinh năm 1965;
  2. Bà Lê Thị D1, sinh năm 1980
  3. Bà Trương Thị B, sinh năm 1958

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp

(Chị O có mặt tại phiên tòa, bà D vắng mặt nhưng có văn bản xin vắng mặt. Những người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 19/7/2023 của bà Đặng Thị H và các lời khai của chị Đỗ Thị Ngọc O là người đại diện theo ủy quyền của bà H trong quá trình giải quyết thể hiện ý kiến như sau:

Bà Đặng Thanh D có làm chủ nhiều dây hụi, trong đó có dây hụi nửa tháng 2.000.000 đồng, khui ngày 02/11/2019 âm lịch, trên danh sách là 24 chân hụi, 18 hụi viên tham gia, bà Đặng Thị H (Quê) tham gia 01 chân hụi, tên trong danh sách hụi là Q (vị trí số 14), bà H đã góp được 15 lần thì bà D ngưng hụi không khui nửa, tổng số tiền hụi bà H đã góp là 2.000.000 đồng x 15 lần = 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) nên bà H yêu cầu bà D trả lại số tiền này, không yêu cầu tính lãi. Tại phiên tòa chị Đỗ Thị Ngọc O là người đại diện theo ủy quyền của bà H có đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bà Đặng Thanh D trả số tiền hụi gốc mà bà H đã góp là 22.790.000 đồng (Hai mươi hai triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi.

- Theo văn bản trình bày ý kiến ngày 09/8/2023; văn bản ý kiến, xin vắng mặt đề ngày 14/6/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đặng Thanh D thể hiện ý kiến như sau:

Bà Đặng Thị H (Quê) có tham gia chơi dây hụi nửa tháng 2.000.000đồng, khui ngày 02/11/2019 do bà làm chủ hụi. Tên trong danh sách hụi là Quê số thứ tự 14, dây hụi có 18 hụi viên, trên danh sách là 24 chân hụi. Bà H góp hụi sống được 03 lần, đến lần thứ 04 thì bà H đòi hốt hụi nhưng bà không đồng ý nên bà H yêu cầu lấy lại tiền hụi để bà H chấm dứt, không tham gia chơi hụi nữa, bà đã trả cho bà H 4.750.000 đồng (Bốn triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng), việc bà H nghỉ chơi hụi và yêu cầu bà trả lại 03 lần đã góp của dây hụi nửa tháng khui ngày 02/11/2019 thì các bên không làm giấy tờ, việc góp hụi cũng không làm giấy tờ. Dây hụi này khui được 15 lần thì bà ngưng không khui do có nhiều hụi viên khác hốt hụi nhưng không góp nên bà không còn khả năng tràn hụi. Nay bà H (Quê) cho rằng góp hụi được 15 lần, mỗi lần 2.000.000 đồng nên kiện yêu cầu bà số tiền là 30.000.000 đồng thì bà không đồng ý vì bà Q đã chấm dứt hụi, số tiền hụi của bà H góp 03 lần là 4.750.000 đồng thì bà cũng đã trả lại nhưng không có gì chứng minh, bản thân lương tâm bà H biết rõ. Đối với văn bản của cơ quan điều tra cung cấp cho Tòa án thể hiện số thứ tự 14 bà Q hốt hụi lần thứ 10 với giá bỏ hụi là 530.000 đồng (Năm trăm ba mươi nghìn đồng) thì bà không đồng ý vì tên trên danh sách hụi đúng là tên Q (H) nhưng thực tế người góp hụi từ lần thứ 04 đến lần thứ 10 là do bà góp nên không phải tiền của bà Q.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng phát biểu tại phiên tòa:

Về tố tụng:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng thủ tục tố tụng.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Xét thấy, tại phiên tòa chị O là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bị đơn bà Đặng Thanh D trả số tiền hụi gốc là 22.790.000₫ (Hai mươi hai triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi là tự nguyện và có cơ sở để chấp nhận.

Kiến nghị khắc phục: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Theo đơn khởi kiện ngày 19/7/2023 của nguyên đơn, ý kiến của đương và các tài liệu trong hồ sơ vụ án xác định đây là vụ kiện về việc “Tranh chấp hụi” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tại phiên tòa, chị Đỗ Thị Ngọc O là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đặng Thị H có đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn trả tiền hụi gốc đã góp là 22.790.000₫ (Hai mươi hai triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng) là tự nguyện, thuộc phạm vi được ủy quyền và không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Bị đơn bà Đặng Thanh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, vắng mặt lần thứ nhất nhưng có văn bản xin vắng mặt. Những người làm chứng gồm bà Lê Thị M, Lê Thị D1 và Trương Thị B vắng mặt nhưng đã có văn bản trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, sự vắng mặt của những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 229 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi gốc đã góp tổng cộng là 22.790.000đ (Hai mươi hai triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng), không tính lãi. Hội đồng xét xử nhận định:

Theo quy định pháp luật thì chủ hụi là người tổ chức, quản lý dây hụi, thu các phần hụi và giao các phần hụi đó cho thành viên được lĩnh hụi trong mỗi kỳ mở hụi cho tới khi kết thúc dây hụi. Chủ hụi có thể đồng thời là thành viên của dây hụi. Thành viên là người tham gia dây hụi, góp phần hụi, được lĩnh hụi và trả lãi (nếu có). Hụi hưởng hoa hồng là hụi có lãi hoặc hụi không có lãi mà thành viên được lĩnh hụi phải trả một khoản hoa hồng cho chủ hụi theo mức do những người tham gia dây hụi thỏa thuận. Hụi có lãi là hụi mà thành viên được lĩnh hụi nhận các phần hụi khi đến kỳ mở hụi và phải trả lãi cho các thành viên khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đặng Thanh D thừa nhận có làm chủ dây hụi nửa tháng 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 02/11/2019 âm lịch, có 18 hụi viên tham gia, trên danh sách hụi có 24 chân hụi, khui vào ngày 02 và ngày 17 hàng tháng, dây hụi khui được 15 lần, đến lần thứ 16 thì ngưng (úp) hụi. Bà D cho rằng bà Đặng Thị H (Q) tham gia 01 chân hụi, tên trong danh sách hụi là Q ở vị trí số 14, góp được 03 lần đến lần thứ 04 bà Q không tham gia chơi hụi nữa và yêu cầu bà D trả tiền nên bà đã trả lại cho bà H số tiền của 03 lần góp hụi tổng cộng là 4.750.000 đồng (Bốn triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Tuy nhiên, bà D không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà D đã trả lại số tiền này cho bà H (Quê). Đồng thời, lời trình bày của bà D cũng có nhiều mâu thuẫn với thực tế và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào văn bản cung cấp thông tin số 338/CV-CSĐT ngày 17/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T thể hiện “Căn cứ tài liệu xác minh, danh sách hụi nửa tháng 2.000.000đồng khui ngày 02/11/2019 AL có 24 chân, đã khui được 15 lần, do thu thập từ sổ hụi của đương sự D và danh sách hụi của đương sự Mỹ, hàng tháng bỏ số tiền bao nhiêu thì đương sự Mỹ có ghi phần phía sau, từ đó Cơ quan Cảnh sát Điều tra tổng hợp lại thành danh sách cụ thể các lần đóng hụi nên tổng số tiền đóng hụi trong 15 lần đã khui là 22.790.000đồng. Đã tiến hành đối chất giữa đương sự D với đương sự M và cả hai đã thống nhất thống nhất với số tiền hụi đã đóng trong dây hụi này”. Nếu đúng thực tế là bà H đã ngưng hụi từ lần thứ 03 thì không có lý gì ngay chính trong sổ hụi của bà D (do bà D quản lý) lại ghi là bà Q hốt lần thứ 10 mà không ghi là bà D hốt. Bà D cũng xác nhận là khi bà H ngưng không tham gia chơi hụi nữa thì bà D cũng không thông báo cho các hụi viên khác trong dây hụi biết là chưa đúng quy định.

Tại Điều 7 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường quy định về Hình thức thoả thuận về dây họ như sau:

“1. Thoả thuận về dây họ được thể hiện bằng văn bản. Văn bản thoả thuận về dây họ được công chứng, chứng thực nếu những người tham gia dây họ yêu cầu.

2. Trường hợp thỏa thuận về dây họ được sửa đổi, bổ sung thì văn bản sửa đổi, bổ sung phải được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này”.

Căn cứ vào danh sách đối chiếu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thì số tiền hụi gốc của dây hụi nửa tháng 2.000.000đồng khui ngày 02/11/2019 AL mà các hụi viên đã góp 15 lần tổng cộng là 22.790.000đồng (Hai mươi hai triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng). Điều này cũng được các đương sự thống nhất, phù hợp với các chứng cứ Tòa án thu thập trong hồ sơ vụ án. Đối với việc danh sách đối chiếu của Cơ quan Cảnh sát điều tra thể hiện bà H (Quê) hốt lần thứ 10 nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng có văn bản cung cấp thông tin với Tòa án là việc thể hiện hụi viên hốt hụi từ lần thứ 01 đến lần thứ 15 là do xem xét từ sổ hụi của bà D đối chiếu với danh sách hụi do bà Lê Thị M cung cấp chớ không làm việc trực tiếp với các hụi viên đã hốt hụi. Bà M có văn bản xác nhận là do bà D thông báo cho bà biết lần thứ 10 bà Q hốt nên bà ghi vào danh sách hụi của bà, thực tế bà không thấy bà Q đi bỏ hụi. Chị Lê Thị D1 cũng xác nhận bà Q chưa hốt hụi. Bà Trương Thị B (tự 05 T) cũng xác nhận bà không tham gia chơi dây hụi này nhưng lần thứ 15 thể hiện bà 05 T hốt hụi là không đúng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/8/2024 thì bà D là chủ hụi cũng xác nhận khi khui hụi nếu hụi viên nào đến bỏ hụi được thì đến, còn không đến được thì sẽ điện thoại cho bà để nói giá hốt hụi, hụi viên nào đưa giá cao thì hốt hụi. Sau đó, bà D sẽ thông báo cho các hụi viên còn lại là lần khui hụi đó do ai hốt. Trong quá trình giải quyết vụ án bà D không cung cấp được chứng cứ chứng minh lần thứ 10 thì bà H bỏ hụi để hốt nên không đủ cơ sở ràng buộc trách nhiệm là bà H đã hốt hụi. Bà D không cung cấp được chứng cứ chứng minh số tiền góp hụi từ lần thứ 04 đến lần thứ 15 là của bà D nên về nguyên tắc số tiền góp hụi là của hụi viên có tên trong danh sách hụi. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết theo quy định vì đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc đưa ra không đầy đủ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử nhận định việc bà D còn nợ số tiền hụi gốc của bà H là có thật nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị H buộc bị đơn Đặng Thanh D trả lại số tiền hụi gốc đã góp 22.790.000đồng (Hai mươi hai triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng), không tính lãi là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên chấp nhận. Ngoài ra, các đương sự không yêu cầu ai khác liên đới nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[3] Xét ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng tại phiên tòa có căn cứ và phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 357, Điều 468 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 96, Điều 97, Điều 144, Điều 147, Điều 195, Điều 196, Điều 203, Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Điều 4, Điều 7 và Điều 12 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị H.

Buộc bị đơn bà Đặng Thanh D trả cho bà Đặng Thị H số tiền hụi gốc là 22.790.000 đồng (Hai mươi hai triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng), không tính lãi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc bà Đặng Thanh D chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.139.500 đồng (Một triệu, một trăm ba mươi chín nghìn, năm trăm đồng);

- Nguyên đơn bà Đặng Thị H không phải chịu tiền án phí được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 750.000đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002686 ngày 24/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04/9/2024). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30, Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tân Hồng;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hồng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 29/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền hụi gốc 22.790.000 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger