Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH SƠN

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày: 05/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khải Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Hưng.
  2. Ông Nguyễn Kim Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Lê Thanh Trà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lê Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/HSST ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 05/7/2024 và Thông báo về việc thay đổi ngày xét xử số: 242/2024/TB-TA ngày 19/7/2024, số: 246/2024/TB-TA ngày 26/7/2024 và số: 258/2024/TB-TA ngày 31/7/2024 đối với bị cáo:

Võ Thanh T, sinh năm: 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Hộ khẩu thường trú: Số B T, tổ D, phường A, quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: Không có nơi ở rõ ràng. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Minh T1 và bà Võ Thị P (đều đã chết); có vợ là Dương Thị Thanh T2 (đã ly hôn); Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2004.

- Tiền sự: Không.

- Tiền án: Tại Bản án số: 199/2009/HSST, ngày 31/12/2009 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, TP . xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2013, chưa chấp hành án phí.

- Nhân thân:

+ Tại Bản án số: 118/HSST, ngày 01/02/1994 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

+ Tại bản án số 152/HSST ngày 10/9/1994 của Tòa án nhân dân Quận 10, TP . xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, chuyển 12 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 118/HSST ngày 01/02/1994 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh thành tù giam. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án 27 tháng tù giam. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 09/12/1995.

+ Tại Bản án số 1591/HSST ngày 05/9/1997 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 20/11/2000.

+ Tại Bản án số 66/HSST ngày 03/6/2004 của Tòa án nhân dân Quận 3, TP . xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 27/10/2007.

+ Tại Bản án số 58/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện đang chấp hành hình phạt tại Trại Giam Đ - Bộ C.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Phạm Văn Â, sinh năm 1963 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lê Văn B, sinh năm: 1988 (Xin vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Hồng H, sinh năm 1987 (Xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

  1. Chị Lê Thị Thu N, sinh năm 2000 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người làm chứng: Anh Lê Văn H1, sinh năm 1971 (Vắng mặt không lý do).

Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian đầu tháng 11 năm 2021, Bị cáo Võ Thanh T rủ Võ Thành S, sinh năm 1996, trú khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài được S đồng ý. Trước khi đi, bị cáo và S chuẩn bị công cụ là Cờ lê, Mỏ lết và phương tiện là xe mô tô hiệu Dream kéo theo romooc. S điều khiển xe mô tô chở bị cáo đi từ nhà S dọc Quốc lộ B theo hướng thành phố P - T đi lên huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Khi đến khu vực thôn H, xã Q, huyện N, bị cáo và S phát hiện có 01 xe máy ủi hiệu KOMATSU - D60P của ông Phạm Văn  đang để ở bãi đất trống không có người trông giữ nên bị cáo và S thống nhất lấy trộm các bộ phận của xe máy ủi. Vào lúc này trời còn sáng nên T và S đợi đến khoảng 18 giờ cùng ngày mới tiếp cận máy ủi và dùng Cờ lê, Mỏ lết tháo gỡ lấy 01 nắp trước máy ủi; 01 nắp sau máy ủi; 01 nắp đầu xe máy ủi, đưa lên romooc kéo về bán cho Cửa hàng phế liệu của anh Nguyễn Hồng H được hơn 1.000.000 đồng, bị cáo và S chia đôi số tiền và đã tiêu xài hết.

Do trộm cắp được các bộ phận của xe máy ủi không bị phát hiện và xe máy ủi không thay đổi vị trí nên khoảng 19 giờ ngày 12/11/2021, bị cáo và S lại tiếp tục dùng công cụ, phương tiện và phương thức như lần trước tháo gỡ lấy 01 thùng nhớt thủy lực máy ủi; 01 két nước máy ủi; 01 bô xe máy ủi, đưa lên romooc kéo về bán cho anh Nguyễn Hồng H được hơn 1.000.000 đồng, bị cáo và S chia đôi số tiền và đã tiêu xài hết.

Đến ngày 16/11/2021, bị cáo tiếp tục rủ S và Lê Văn B đến vị trí xe máy ủi trộm cắp các bộ phận. Sau đó S và B lên trước, trong lúc đang quan sát, tìm kiếm các bộ phận của xe máy ủi để trộm cắp thì bị lực lượng Công an xã Q phát hiện mời lên làm việc. Còn bị cáo lên sau thấy S và B bị phát hiện nên quay về bỏ đi khỏi nơi tạm trú thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-ĐGTS, ngày 27/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện N kết luận: Thùng nhớt thủy lực của máy ủi hiệu KOMATSU - D60P đã qua sử dụng có giá 5.000.000 đồng; Két nước của máy ủi hiệu KOMATSU - D60P đã qua sử dụng có giá 7.000.000 đồng

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-ĐGTS, ngày 29/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện N kết luận: Nắp trước của máy ủi hiệu KOMATSU - D60P đã qua sử dụng có giá 1.900.000 đồng; Nắp sau của máy ủi hiệu KOMATSU - D60P đã qua sử dụng có giá 1.900.000 đồng; Nắp đầu xe của máy ủi hiệu KOMATSU - D60P đã qua sử dụng có giá 2.200.000 đồng; Bô xe của máy ủi hiệu KOMATSU - D60P đã qua sử dụng có giá 700.000 đồng.

Võ Thành S, đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận ra Quyết định khởi tố bị can số 05 ngày 19/01/2022 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, nhưng đến ngày 16/5/2022, S đi bắt cá bị chết đuối nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Võ Thành S.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, truy tố đã:

- Tạm giữ, sau đó trả lại các tài sản cho chủ sở hữu, gồm: 01 thùng nhớt thủy lực của máy ủi hiệu KOMATSU - D60P; 01 két nước của máy ủi hiệu KOMATSU - D60P cho ông Phạm Văn Â; 01 xe mô tô biển kiểm soát 85D1-573.15 cho Võ Thành S. Ông  và S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

- Thu giữ: 2.100.000 đồng của Võ Thành S (Sang mượn của chị N để nộp); 1.400.000 đồng của anh Nguyễn Hồng H; 400.000 đồng của anh Lê Văn B.

- Đối với Cờ lê, Mỏ lết và chiếc xe mô tô hiệu Dream kéo theo romooc là công cụ, phương tiện do bị cáo và Võ Thành S sử dụng vào việc phạm tội, nhưng không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Phạm Văn  chưa có yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số: 28/CT-VKS-NS ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã trình bày tại Cơ quan Cảnh sát điều tra.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Võ Thanh T mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

- Người bị hại là anh Phạm Văn  và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo rất ăn năn, hối cải, gửi lời xin lỗi người bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử sơ thẩm có đủ cơ sở kết luận: Vào đầu tháng 11/2021, bị cáo Võ Thanh T đã 02 lần có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của anh Phạm Văn  có giá trị là 18.700.000 đồng.

[3] Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 28/CT-VKS-NS ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

[4] Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Xét về tình tiết tăng nặng thì bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự . Xét về tình tiết giảm nhẹ thì bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét về nhân thân thì bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó để làm bài học, tu dưỡng bản thân, sống làm người có ích cho xã hội mà lại 02 lần có hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của anh  với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 18.700.000 đồng nên phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra đồng thời căn cứ điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự tổng hợp hình phạt 6 năm tù tại bản án số 58/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đối với bị cáo để tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là anh Phạm Văn  chưa yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên được tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi anh  có yêu cầu.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu SuZuki, màu đỏ biển số 49S1- 4546 không có số khung số máy do Công an huyện N đang tạm giữ nên tiếp tục giao cho Công an huyện N tạm giữ, xử lý theo quy định của pháp luật.

- Trả lại 2.100.000 đồng cho chị Lê Thị Thu N; 1.400.000 đồng cho anh Nguyễn Hồng H; 400.000 đồng cho anh Lê Văn B vì số tiền này không liên quan đến vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 56 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Võ Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Xử phạt: Bị cáo Võ Thanh T 18 (Mười tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 6 năm tù tại bản án số 58/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 7 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại 2.100.000 đồng cho chị Lê Thị Thu N; 1.400.000 đồng cho anh Nguyễn Hồng H; 400.000 đồng cho anh Lê Văn B.

- Giao cho Công an huyện N tiếp tục tạm giữ, xử lý theo quy định của pháp luật đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, màu đỏ biển số 49S1-4546 không có số khung số máy do Công an huyện N đang tạm giữ.

Toàn bộ số tiền và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1047599 và kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

3. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Võ Thanh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/8/2024). Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Sơn;
  • - CQCSĐT Công an huyện Ninh Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo, Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Khải Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thanh T - Tội trộm cắp tài sản - Khoản1 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger