TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HS-ST
Ngày 17-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy An
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hải;
- Ông Lê Văn Rẽn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Quốc Dũng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sơn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (tên gọi khác: B), sinh ngày 15/5/1999, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị L1; vợ con chưa có; tiền án: không có; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54 ngày 16/3/2023 của Công an thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã nộp phạt. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2024, đến ngày 12/01/2024 chuyển tạm giam đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 21 giờ ngày 02/01/2024, Nguyễn Văn T nhờ một người bạn tên L2 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua dùm 200.000 đồng ma túy đá để sử dụng. Khoảng 22 giờ cùng ngày, sau khi có ma túy, T mượn điện thoại của anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1990, ngụ khu phố T, thị trấn G, huyện G gọi và hẹn chị Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm: 1997, ngụ khu phố T, thị trấn G, huyện G đến khu vực huyện B tìm nhà nghỉ để quan hệ tình dục, thì N đồng ý. Sau đó, T nhờ anh Đ điều khiển xe môtô biển số 70U1-2520 chở T đến khu vực huyện B gặp chị N. Khi đến nhà trọ “Như Ngọc” thuộc ấp C, xã A, huyện B, T và Như thuê phòng số 11 để nghỉ và thuê phòng số 17 cho Đ nghỉ. Khi vào phòng số 11, T rủ Như cùng sử dụng ma túy đá, thì N đồng ý; T lấy 01 bịch ma túy đá và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đem theo trước đó, T lấy ma túy đổ vào tẩu rồi dùng bật lửa hơ nóng ma túy, sử dụng được 02 hơi thì T đưa ma túy cho N sử dụng 02 hơi. Đến 00 giờ 20 phút ngày 03/01/2024 thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Trong ngày 03/01/2024, xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Huỳnh N và Phạm Văn Đ, kết quả: T và Như dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine; Đ âm tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số: 21 ngày 10/01/2024, của Phòng K Công an T1, kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn (kí hiệu M1) bên trong một ống thủy tinh trong suốt, một đầu tròn có ụ tròn gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,3202 gam.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) gói niêm phong vụ số 21/KL-KTHS.
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
- 01 (một) bật lửa màu đỏ.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A15S, số Imeil: 866314052250030; số Imei 2: 866314052250022 đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô biển số: 70U1-2520; số máy VHHJL150FMG00112611; số khung: VHHDCG084UM112611, đã qua sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSBC ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố Nguyễn Văn T về
tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Về mức hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn T thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn Đ đã trình bày: Ngày 02/01/2024 anh có cho Nguyễn Văn T mượn điện thoại di động để liên lạc với bạn gái và điều khiển xe mô tô biển số 70U1-2520 chở T đi gặp Như, tuy nhiên anh không biết T sử dụng ma túy và có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, do đó anh yêu cầu được nhận lại xe và điện thoại di động.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Nguyễn Văn T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội danh và điều luật áp dụng:
Qua điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận: Vào lúc 00 giờ 20 phút ngày 03/01/2024, tại phòng số 11 nhà trọ “N" thuộc ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn T đang tổ chức cho Nguyễn Thị Huỳnh N cùng sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine thì bị bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người làm chứng; phù hợp với vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác được thu giữ. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Văn T (B) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng số: 24/CT-VKSBC ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo là có căn cứ.
[3] Về tính chất vụ án: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, bản thân của bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực kiểm soát, quản lý các chất ma túy và gây mất an ninh trật tự địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và lan tràn tệ nạn ma túy nên cần nghiêm trị.
Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[4] Khi quyết định hình phạt, có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự chưa được xóa.
[5] Áp dụng hình phạt: Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo T là có căn cứ. Bởi lẽ, bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt, biết chấp hành pháp luật.
[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 (một) gói niêm phong vụ số 21/KL-KTHS là ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 (một) bật lửa màu đỏ không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A15S, số Imeil: 866314052250030; số Imei 2: 866314052250022 đã qua sử dụng và 01 (một) xe mô tô biển số: 70U1-2520; số máy VHHJL150FMG00112611; số khung: VHHDCG084UM112611 đã qua sử dụng là của anh Phạm Văn Đ; anh Đ cho bị cáo T mượn điện thoại di động gọi cho bạn gái và dùng xe máy chở T đi gặp bạn gái, tuy nhiên anh Đ không biết T sử dụng ma túy và có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên trả lại các tài sản trên cho anh Đ.
[8] Đối với người bạn tên L2 mua ma túy cho T, do không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.
[9] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị Huỳnh N, Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
[10] Đối với chủ cơ sở Nhà nghỉ “Như Ngọc” là người tố giác tội phạm nên không xử lý.
[11] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo T và anh Phạm Văn Đ được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (B) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (B) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03 tháng 01 năm 2024.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong vụ số 21/KL-KTHS; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 (một) bật lửa màu đỏ.
Trả lại cho anh Phạm Văn Đ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A15S, số Imeil: 866314052250030; số Imei 2: 866314052250022 đã qua sử dụng và 01 (một) xe mô tô biển số: 70U1-2520; số máy VHHJL150FMG00112611; số khung: VHHDCG084UM112611 đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh)
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp pháp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy An |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van Tri
