Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày 16-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Quang Thanh – Đã từng là Giáo viên, Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Thị Lựu, thành phố Cao Lãnh.
  2. Ông Nguyễn Phú Hữu – Đã từng là Giáo viên, Hiệu trưởng Trường THCS Võ Trường Toản, thành phố Cao Lãnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Thành T, sinh năm 1978, tại Đồng Tháp; Nơi thường trú: Tổ B, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở hiện nay: Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp, địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 01/12. Nghề nghiệp: Không; Con ông: Võ Văn D (chết) và bà: Đoàn Thị B (chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú;

Hiện bị cáo đang cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp theo Hợp đồng cai nghiện ma túy tự nguyện số 250/HĐ-CSĐTN ngày 02/11/2023, thời hạn 06 tháng kể từ ngày 02/11/2023 đến ngày 02/5/2024.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Trương Tuấn K, sinh ngày 04/7/2006 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi thường trú: Tổ 30, khóm D, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở hiện nay: Khóm F, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Nơi tạm trú: Số C, khu phố F, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Mai Thị Đ, sinh năm 1981 (mẹ) (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt). Nơi thường trú: Tổ 30, khóm D, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Nơi tạm trú: Số C, khu phố F, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Hữu T1, sinh năm 1975 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Nơi thường trú: Tổ E, khóm A, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm 1972 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Nơi thường trú: Tổ I, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 23/10/2023, Võ Thanh T2 đi bộ đến cửa tiệm N thuộc tổ A, khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp để chơi game, đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 24/10/2023 thì ra về. Lúc này, T2 phát hiện 01 xe mô tô hiệu Drin màu nâu, biển số 66F8- 1912, của anh Trương Tuấn K, sinh năm 2006, ngụ tổ C, khóm D, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp đang đậu trong hàng rào tại khu vực trước sân cửa tiệm N, không có người trông coi nên T2 nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe này để bán lấy tiền tiêu xài. T2 đến lấy trộm xe mô tô và dẫn xe ra phía ngoài hàng rào, dùng tay tháo dây điện, bẻ khóa, khởi động máy điều khiển xe chạy về nhà tại ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp cất giấu. Do nợ chị Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm 1972 ngụ: Tổ C, khóm D, phường D, thành phố C số tiền 500.000 đồng trước đó nên ngày 31/10/2023 T2 mang xe trộm được của anh K đến thế chấp cho chị D1 và hẹn khi nào trả số tiền 500.000 đồng thì nhận lại xe.

Đối với anh K chơi game đến khoảng 04 giờ 00 phút ngày 24/10/2023 thì nghỉ chơi game bước ra khu vực đậu xe tại tiệm N thì phát hiện xe mô tô biển số 66F8- 1912 của mình đã bị mất trộm, do bận công việc nên K đi thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 02/11/2023 K đến Công an P trình báo vụ việc. Qua công tác truy xét, Công an P đã mời Võ Thành T làm việc ghi lời khai. Tại Cơ quan Công an, T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và chủ động chỉ nơi thế chấp tài sản lấy trộm cho Công an Phường 6 đến tạm giữ xe mô tô biển số 66F8- 1912. Xét thấy, vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên Công an Phường 6 đã chuyển hồ sơ, tang vật đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C để giải quyết theo thẩm quyền.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 686/KL-HÐÐGTS ngày 27/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Drin màu nâu, biển số 66F8-1912, đã qua sử dụng, trị giá 2.500.000 đồng.

Đối với xe mô tô biển số 66F8- 1912 là thuộc sở hữu của ông Lê Hữu T1 đã cho Trương Tuấn K mượn quản lý, sử dụng. Ngày 24/10/2023, K chạy xe đến tiệm N chơi game thì bị mất trộm nên Cơ quan điều tra đã thu hồi xe và đã trả lại xe cho ông T1 xong.

Trong quá trình điều tra bị cáo Võ Thanh T2 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên và phù hợp với lời khai người bị hại, các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 27/CT-VKS-TPCL ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Võ Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

  • * Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
    • Về tội danh: Áp dụng Điều 173 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Võ Thành T với mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
    • Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.
  • * Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thành T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Võ Thành T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung Bản Cáo trạng số 27/CT-VKS-TPCL ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo, lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai người bị hại, các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:

    Để có tiền tiêu xài nên khoảng 01 giờ 00 phút ngày 24/10/2023, bị cáo T lén lút lấy trộm xe mô tô hiệu Drin màu nâu, biển số 66F8-1912 của Trương Tuấn K đang đậu trước tiệm game Net 66 thuộc tổ A, khóm B, phường F, thành phố C; sau đó mang xe này thế chấp cho chị Nguyễn Thị Mỹ D1 thì bị Công an P phát hiện và thu hồi tài sản. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 2.500.000 đồng.

    Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

    Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức rất rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng xuất phát từ việc xem thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải bỏ công sức lao động như bao người khác, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý và tội phạm đã hoàn thành.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Võ Thành T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

......”

  1. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đặc biệt thời gian gần đây, tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và tội phạm trộm cắp tài sản nói riêng ngày càng tăng, gây thiệt hại về tài sản, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết và cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, nhằm để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
  2. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:
    • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
    • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; chỉ nơi thế chấp tài sản lấy trộm để thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  3. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Hữu T1 đã nhận lại tài sản; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Hữu T1, Nguyễn Thị Mỹ D1 không yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét.
  5. Về vật chứng: Đã xử lý xong.
  6. Các vấn đề khác: Đối với bà Nguyễn Thị Mỹ D1 khi nhận thế chấp xe mô tô biển số 66F8- 1912 từ Võ Thành T thì hoàn toàn không biết xe do T lấy trộm của người khác và bà D1 đã giao nộp cho Công an P để xử lý theo quy định, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét xử lý.
  7. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố Cao Lãnh về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
  8. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    • - Tuyên bố bị cáo Võ Thành T, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Võ Thành T, 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  3. Xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Võ Thành T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND TPCL;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - CQĐT Công an TPCL;
  • - CQTHAHS Công an TPCL;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger