TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA Bản án số:29/2024/HS-ST Ngày 20-7-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Sang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Lâm; Ông Hoàng Văn Cường.
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 14/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/HSST-QĐ ngày 27/6/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Vũ Hoàng T, sinh ngày 06/5/1995 tại xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; Gia đình có 06 người con, bị cáo là con thứ sáu; có vợ là Đỗ Thị T2, sinh năm 1998 (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2018; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 25/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xử phạt tiền 40.000.000 đồng về tội Đánh bạc, chưa chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ tên: Nguyễn Trung K, sinh ngày 15/8/1997 tại xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1973 và bà Đặng Thị L, sinh năm 1973; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Trần Thị T3, sinh năm 2001 (đã ly hôn); Có 02 người con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền sự: Tiền án: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ tên: Vũ Văn T4, sinh ngày 15/01/1995 tại xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Ngọc Đ, sinh năm 1955 và bà Trần Thị T5, sinh năm 1960; Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ tư; Chưa có vợ con; Tiền sự: Tiền án: Không;
Nhân thân: - Ngày 30/10/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 26 (hai mươi sáu) tháng tù về tội cố ý gây thương tích;
- Ngày 16/9/2015 bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù vê tội Chống người thi hành công vụ. Đã chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
4. Họ tên: Đặng Văn T6, sinh ngày 25/02/2005 tại xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Y, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn H, sinh năm 1981 và bà Đào Thị H1, sinh năm 1983; Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ hai; Chưa có vợ con; Tiền sự: Tiền án: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
5. Họ tên: Đỗ Thị Phương T7, sinh ngày 12/8/2002 tại huyện T, tỉnh Thái Bình.
Nơi ĐKHKTT: xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn N1, sinh năm 1978 và bà Đỗ Thị N2, sinh năm 1980; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất; Chưa có chồng con; Tiền sự: Tiền án: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
6. Họ tên: Trịnh Đức D, sinh ngày 09/7/2000 tại xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn L1, sinh năm 1973 và bà Mai Thị P, sinh năm 1974; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Chưa có vợ con; Tiền sự: Tiền án: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- - Chị Đỗ Thị V, sinh năm 2005. Vắng mặt
- Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Lò Thị T8, sinh năm1996. Vắng mặt
- Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Trần Gia P1, sinh năm 2006. Vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Trần Thị T9, sinh năm 1983. Vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Vũ Văn T10, sinh năm 1991. Vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Mai Thế M, sinh 1980. Vắng mặt
- Địa chỉ: Khu P, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Tạ Thị H2, sinh năm 2001. Vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/02/2024, tại Phòng hát số 04 quán K2 thuộc thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã phát hiện, bắt quả tang Vũ Hoàng T, Nguyễn Trung K, Vũ Văn T4 và Đặng Văn T6 đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ được gồm: 01 (một) đĩa sứ tròn màu trắng, 01 (một) thẻ nhựa màu đỏ loại thẻ sim V1, 01 (một) ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng đều bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 (một) bật lửa màu xanh, 01 (một) điện thoại Iphone 8 màu vàng đã qua sử dụng có gắn sim số 0367819000 của Vũ Hoàng T, 01 (một) điện thoại Iphone 14 Promax màu xanh đã qua sử dụng có gắn sim số 0824678333 của Nguyễn Trung K; 01 (một) điện thoại Iphone 6 màu vàng đã qua sử dụng có gắn sim số 0968512584 của Vũ Văn T4; 01 (một) điện thoại Redmi màu xanh đã qua sử dụng có gắn sim số 0966154345 của Đặng Văn T6.
Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/02/2024, sau khi ăn sang với nhau xong, Vũ Hoàng T đã rủ Vũ Văn T4 và Nguyễn Trung K đi hát Karaoke thì tất cả đồng ý. Sau đó, Vũ Hoàng T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36K5 -322.07 cầm theo một chiếc đĩa sứ, chở Vũ Văn T4 và Nguyễn Trung K đi hát Karaoke. Trên đường đi Vũ Hoàng T đã liên hệ với chị Trần Thị T9 (sinh năm: 1983, trú tại thôn M, xã M, huyện H) là chủ quán hát Karaoke Galaxy ở thôn M, xã M, huyện H để thuê phòng hát. Khi đến quán hát, các bị can được quản lý đưa vào phòng 04, còn Vũ Hoàng Trung liên h hỏi mua ma tuý để sử dụng nhưng không được nên nói với cả nhóm “tao gọi mua đồ không được”, nghe vậy K liên hệ qua Messenger với Trịnh Đức D, sinh năm 2000, trú tại thôn M, xã M, huyện H hỏi “biết ai bán đồ mua cho một chỉ Ke và hai viên Kẹo”, D nói “để hỏi xem có không và giá như thế nào rồi báo lại”. Sau đó, D liên hệ qua Zalo cho Đỗ Thị Phương T7, sinh năm 2002, ở tại thôn L, xã H, huyện H và hỏi “còn đồ không để cho một chỉ Ke và hai viên Kẹo”, T7 trả lời còn và báo giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), thì D gọi lại cho K nói mua được ma túy và báo giá 4.300.000 đồng (bốn triệu ba trăm nghìn đồng), K đồng ý và hẹn D đưa ma túy đến quán K2. Trong lúc chờ mua ma túy, Vũ Hoàng T gọi điện qua M1 rủ Đặng Văn T6 đến quán hát cùng, Đặng Văn T6 đồng ý. Khi Đặng Văn T6 vừa đến phòng hát, Vũ Hoàng T nói Đặng Văn T6 đi mua thẻ nhựa để làm dụng cụ xào Ketamine, Đặng Văn T6 điều khiển xe mô tô của Vũ Văn T4 đến cửa hàng bán sim thẻ điện thoại (không xác định được địa chỉ) ở khu vực ngã tư xã M, huyện H hỏi mua một vỏ thẻ sim, sau đó mang về đặt lên bàn trong phòng hát. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Trịnh Đức D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36F1 -238.93 mang ma túy đến để trên bàn trong phòng hát thì Vũ Hoàng T hỏi số tài khoản và chuyển cho D 3.900.000 đồng (ba triệu chín trăm nghìn đồng) để trả tiền mua ma túy, K đứng bên thấy thiếu tiền đã lấy 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) đưa cho D. Sau khi nhận tiền xong, D điều khiển xe mô tô đi về cây ATM tại thị trấn H, huyện H rút hết số tiền bán ma túy. Sau đó, D gọi điện cho T7 hẹn gặp để trả 3.000.000 đồng tiền mua ma túy, số tiền còn lại D tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi có ma túy, Đặng Văn T6 tự bẻ ½ viên ma túy loại MDMA cho vào miệng sử dụng và Vũ Văn T4 nói với Đặng Văn T6 đi lấy giấy vệ sinh để cho Vũ Văn T4 lau đĩa và đốt hơ nóng đĩa để xào K1. Vũ Văn T4 lấy tờ tiền 20.000 đồng trong túi cuộn thành ống hút và dùng ba vỏ đầu tẩu thuốc lá để định vị xong để lên bàn rồi dùng giấy lau đĩa và đốt hơ nóng đĩa sau đó đổ Ketamine lên đĩa lấy thẻ đảo xào chia thành các đường Ketamin nhỏ rồi bê đĩa Ketamin tự sử dụng xong đặt lên bàn trong phòng hát. Thấy vậy, Vũ Hoàng T, Nguyễn Trung K và Đặng Văn T6 tự lấy MDMA cho vào miệng để sử dụng rồi tự bê đĩa cầm ống hút để sử dụng. Sau khi sử dụng xong ma túy, các bị can có gọi chị Đỗ Thị V (sinh ngày: 28/6/2005, trú tại khu phố H, thị trấn B, huyện N) và chị Lò Thị T8 (sinh năm: 1996, trú tại khu phố T, thị trấn T, huyện T) đến ngồi hát và nghe nhạc. Vũ Hoàng T điện thoại cho anh Trần Gia P1 (sinh năm: 2006, trú tại thôn Y, xã Đ, huyện H) đến để chở các bị can về. Khi anh P1 đến và vào phòng hát số 04 ngồi hát, uống bia với các bị can thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H kiểm tra, bắt quả tang.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Trịnh Đức D đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đầu thú về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” và giao nộp 01 (một) điện thoại Iphone 7 màu hồng đã qua sử dụng có gắn sim số 0397 673 991; 01 (một) xe máy Honda AirBlade màu đen cam, mang biển kiểm soát 36F1 - 23893.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đỗ Thị Phương T7 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đầu thú về hành vi “Mua bán trái pháp chất ma túy” và giao nộp 03 (ba) túi nilông màu trắng bên trong đựng chất rắn màu trắng dạng tinh thể, 04 (bốn) viên nén màu xám hình bầu dục và 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) là tiền bán ma túy cho Trịnh Đức D; 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu hồng đã qua sử dụng bị vỡ ốp lưng gắn sim số 0829633853 của Đỗ Thị Phương T7.
Tiến hành khám xét phòng hát số 04 quán K2 và nơi ở của Trịnh Đức Đ1, Đỗ Thị Phương T7 không thu giữ được gì.
Tại bản kết luận giám định số 642/KL-KTHS ngày 20/02/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: “Tìm thấy chất ma tuý, loại: Methamphetamine, MDMA, Ketamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Trung K, Vũ Văn T4, Đặng Văn T6, Vũ Hoàng T gửi đến giám định. Không tìm thấy chất ma tuý, loại: MDA, MDMA, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Lò Thị T8, Đỗ Thị V, Trần Gia P1 gửi đến giám định”.
Tại bản kết luận giám định số 643/KL-KTHS ngày 20/02/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: “Tìm thấy chất ma tuý, loại: Ketamine bám dính trên đĩa sứ, trên thẻ nhựa và trên tờ tiền của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định. Chất rắn màu trắng dạng tinh thể của phong bì niêm phong kí hiệu M7 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 1,728g (một phẩy bảy hai tám gam) loại: Ketamine. 04 (bốn) viên nén màu xám hình bầu dục của phong bì niêm phong kí hiệu M7 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 1,718g (một phẩy bảy một tám gam) loại: Methamphetamine, MDMA”.
Quá trình điều tra xác định các bị cáo Vũ Hoàng T, Nguyễn Trung K, Vũ Văn T4 và Đặng Văn T6 không phải là người nghiện ma túy, không có trong danh sách nghiện quản lý tại địa phương.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã thu thập được.
Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36K5 - 322.07 là tài sản hợp pháp của anh Vũ Văn T10 (sinh năm: 1991, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện H, là anh trai của bị can T4), việc bị cáo T4 sử dụng đi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy anh T10 không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36F1 -238.93 là tài sản hợp pháp của anh Mai Thế M (sinh năm: 1980, trú tại khu P, thị trấn H, huyện H, là cậu ruột của bị cáo D), việc bị cáo D sử dụng đi bán ma túy anh M không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu vàng đã qua sử dụng có gắn sim số 0968512584 của Vũ Văn T4 không sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với chiếc điện thoại Redmi màu xanh cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0966154345 là tài sản hợp pháp của chị Tạ Thị H2 (sinh năm: 2001, trú tại thôn Y, xã Đ, huyện H, là chị dâu của bị cáo Đặng Văn T6), không sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với 01 (một) phong bì màu trắng dán kín đựng vật chứng hoàn trả sau giám định; 01 (một) điện thoại Iphone 8 màu vàng, cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0362819000 của Vũ Hoàng T; 01 (một) điện thoại Iphone 14 Promax màu xanh, cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0824 678 333 của Nguyễn Trung K; 01 (một) điện thoại Iphone 7 màu hồng cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0397 673 991 của Trịnh Đức D; 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu hồng cũ đã qua sử dụng bị vỡ ốp lưng gắn sim số 0829633853 và số tiền 3.000.000 đồng của Đỗ Thị Phương T7 là vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện H bảo quản, chờ xử lý.
Ngày 13/6/2024 thân nhân Vũ Hoàng T nộp số tiền 35.500.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc thi hành khoản tiền phạt theo Quyết định thi hành án số 135 ngày 17/12/2018/ Bản án số 59/2018/HSST ngày 25/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Tại phiên tòa các bị cáo Vũ Hoàng T, Nguyễn Trung K, Vũ Văn T4, Đỗ Thị Phương T7; Trịnh Đức D tỏ thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, đề nghị xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất; Bị cáo Đặng Văn T6 đề nghị xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại cáo trạng số 29/CT-VKSHL ngày 02/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố các bị cáo Vũ Hoàng T, Nguyễn Trung K, Vũ Văn T4, Đặng Văn T6 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc - tỉnh Thanh Hóa về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; Truy tố Đỗ Thị Phương T7, Trịnh Đức D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm về việc truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- - điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 BLHS đối với Vũ Hoàng T;
- - điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS đối với Nguyễn Trung K, Vũ Văn T4, Đặng Văn T6.
- - khoản 1 Điều 251; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với Đỗ Thị Phương T7.
- - khoản 1 Điều 251; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với Trịnh Đức D.
Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng T từ 07 (bảy) năm 09 tháng đến 8 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Trung K, Vũ Văn T4, Đặng Văn T6 từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Phương T7 từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024.
Xử phạt bị cáo Trịnh Đức D từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024.
Về phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu sung ngân sách nhà nước Đối với 01 (một) phong bì màu trắng dán kín đựng vật chứng hoàn trả sau giám định; 01 (một) điện thoại Iphone 8 màu vàng, cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0362819000 của Vũ Hoàng T; 01 (một) điện thoại Iphone 14 Promax màu xanh, cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0824 678 333 của Nguyễn Trung K; 01 (một) điện thoại Iphone 7 màu hồng cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0397 673 991 của Trịnh Đức D; 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu hồng cũ đã qua sử dụng bị vỡ ốp lưng gắn sim số 0829633853 và số tiền 3.000.000 đồng của Đỗ Thị Phương T7.
Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 1.300.000 đồng của Trịnh Đức D là tiền thu lợi bất chính.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Đối với sự vắng mặt của người làm chứng. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét hành vi phạm tội: Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ khoảng 10 giờ 30 phút đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/02/2024 tại phòng hát số 04 quán K2 thuộc thôn M, xã M, huyện H. Vũ Hoàng T, Nguyễn Trung K, Vũ Văn T4 và Đặng Văn T6 chuẩn bị các dụng cụ và cùng nhau sử dụng ma túy loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine.
Đỗ Thị Phương T7 là người bán ma túy cho Trịnh Đức D và Trịnh Đức D là người bán ma túy cho các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, Đỗ Thị Phương T7 còn có hành vi tàng trữ 1,728g loại Ketamine và 1,718g loại Methamphetamine, MDMA. Tổng quy đổi các chất ma túy mà Đỗ Thị Phương T7 tàng trữ để bán theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018, quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 tương đương với 8,6g Ketamine hoặc 2,15g Methamphetamine, MDMA.
Cáo trạng số 29/CT-VKSHL ngày 02/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố các bị cáo - Vũ Hoàng T, Nguyễn Trung K, Vũ Văn T4 và Đặng Văn T6 về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự. Truy tố các bị cáo Đỗ Thị Phương T7 và Trịnh Đức D về Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội bởi “tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy” và “mua bán trái phép chất ma túy” gây ảnh hưởng xấu đến xã hội, làm ảnh hưởng an ninh trật tự tại địa phương, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào chế độ quản lý, sử dụng các chất gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, là nguyên nhân phát sinh thêm nhiều tệ nạn trong xã hội, trực tiếp hủy hoại đến sức khoẻ bản thân người sử dụng và làm thiệt hại đến kinh tế gia đình, còn là nguyên nhân lây truyền nhiều loại bệnh xã hội. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ mà các bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để trừng trị, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy các bị cáo cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ trong quá trình cùng thực hiện tội phạm nên thuộc trường hợp “Đồng phạm giản đơn” theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự.
Đánh giá từng vai trò thì bị cáo Vũ Hoàng T là người khởi sướng việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên có vai trò thứ nhất. Các bị cáo Nguyễn Trung K, Vũ Văn T4, Đặng Văn T6 cùng chuẩn bị công cụ và sử dụng có vai trò thứ hai.
Đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma túy các bị cáo phạm tội độc lập. Căn cứ vào khối lượng ma túy thì bị cáo Đỗ Thị Phương T7 là người phải chịu trách nhiệm hình sự mức cao hơn Trịnh Đức D về số ma túy tàng trữ đã giao nộp.
[4] Bị cáo Vũ Hoàng T khi phạm tội chưa chấp hành khoản tiền phạt tại bản án Đánh bạc năm 2018 nên chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, chính quyền địa phương có xác nhận gia đình bị cáo Vũ Hoàng T có hoàn cảnh khó khăn, vợ chồng bị cáo ly hôn, bị cáo nuôi con nhỏ, mẹ bị cáo đã già, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình phải nuôi mẹ già, con nhỏ và một chị gái bị tâm thần, đồng thời bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền phạt số tiền còn phải thi hành của bản án trước và đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của BLHS. Do vậy xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Trung K có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, quá trình điều tra khai báo người bán ma túy. Tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Có ông nội là người có công trong kháng chiến chống Mỹ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo Vũ Văn T4 có nhân thân xấu về tội Cố ý gây thương tích và tội Chống người thi hành công vụ lại tiếp tục phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm khắc. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có bố là thương binh trong kháng chiến chống Mỹ, được chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen trong công tác đền ơn đáp nghĩa nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, 2 của BLHS. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố đang bị ung thư, đã ly hôn, con nhỏ nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo Đặng Văn T6 quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thân nhân là người có công sức trong kháng chiến chống Mỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên xem xét việc bị cáo thể hiện sự tích cực khi cùng sử dụng ma túy, ý thức của bị cáo tại phiên tòa đối với hành vi phạm tội mà xử lý nghiêm đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
Đối với các bị cáo Đặng Thị Phương T11 phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số ma túy bán cho Trịnh Đức D và số ma túy giao nộp nên phải chịu trách nhiệm mức cao hơn so với Trịnh Đức D. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, đây là lần đầu phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã đầu thú, tự nguyện giao nộp ma túy đang tàng trữ, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Đối với Trịnh Đức D đã tự nguyện đầu thú, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự khai nhận báo cáo cơ quan điều tra về người bán ma túy nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại Iphone 8 màu vàng, cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0362819000 của Vũ Hoàng T; 01 (một) điện thoại Iphone 14 Promax màu xanh, cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0824 678 333 của Nguyễn Trung K; 01 (một) điện thoại Iphone 7 màu hồng cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0397 673 991 của Trịnh Đức D; 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu hồng cũ đã qua sử dụng bị vỡ ốp lưng gắn sim số 0829633853 và số tiền 3.000.000 đồng của Đỗ Thị Phương T7 là vật chứng của vụ án liên quan đến hành vi phạm tội tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Truy thu số tiền 1.300.000 đồng đối với Trịnh Đức D là tiền D thu lời bất chính từ việc bán ma túy sung ngân sách nhà nước.
[7] Những vấn đề liên quan: Về nguồn gốc số ma túy: Quá trình điều tra không biết rõ họ tên và địa chỉ, không rõ đặc điểm nhận dạng của người đã bán ma túy cho Đỗ Thị Phương T7 nên khi nào làm rõ xử lý sau.
Trong vụ án này: Đối với chị Lò Thị T8 và chị Đỗ Thị V là nhân viên phục vụ quán hát và anh Trần Gia P1 là bạn của bị cáo Vũ Hoàng T đến phòng hát sau khi các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên những người này không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không xem xét trách nhiệm là đúng quy định.
Đối với chị Trần Thị T9 là chủ quán K2 không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không xem xét trách nhiệm là đúng quy định.
Đối với anh Vũ Văn T10 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36K5 - 322.07 nhưng anh T10 không biết việc bị cáo Vũ Văn T4 mượn đi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không xem xét trách nhiệm.
Đối với anh Mai Thế M là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36F1 - 23893 nhưng anh M không biết việc bị cáo Trịnh Đức D mượn đi bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không xem xét trách nhiệm.
Đối với chị Tạ Thị H2 là chủ sở hữu chiếc điện thoại Redmi màu xanh cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0966154345 nhưng chị H2 không biết mục đích bị cáo Đặng Văn T6 sử dụng để làm gì nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không xem xét trách nhiệm.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: - điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 BLHS đối với Vũ Hoàng T;
- điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS đối với Nguyễn Trung K, Vũ Văn T4, Đặng Văn T6.
- khoản 1 Điều 251; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với Đỗ Thị Phương T7Đức D1.
* Tuyên bố: - Các bị cáo Vũ Hoàng T, Nguyễn Trung K, Vũ Văn T4, Đặng Văn T6 phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Các bị cáo Đỗ Thị Phương T7, Trịnh Đức D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng T 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T4 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T6 07 (bảy) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Phương T7 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024.
Xử phạt bị cáo Trịnh Đức D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024.
* Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy Đối với 01 (một) phong bì màu trắng dán kín đựng vật chứng hoàn trả sau giám định;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước với 01 (một) điện thoại Iphone 8 màu vàng, cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0362819000 của Vũ Hoàng T; 01 (một) điện thoại Iphone 14 Promax màu xanh, cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0824 678 333 của Nguyễn Trung K; 01 (một) điện thoại Iphone 7 màu hồng cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0397 673 991 của Trịnh Đức D; 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu hồng cũ đã qua sử dụng bị vỡ ốp lưng gắn sim số 0829633853 và số tiền 3.000.000 đồng của Đỗ Thị Phương T7 theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
- Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 1.300.000 đồng đối với Trịnh Đức D là tiền thu lợi từ việc mua bán ma túy.
*Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
*Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Sang |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 20/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
