Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HSPT

Ngày 19-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình và ông Trần Văn Thưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 31/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Hà Văn B do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

* Bị cáo có kháng cáo: Hà Văn B, sinh ngày 21 tháng 5 năm 2003 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Làng O, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Q, sinh năm 1972 và bà Ngân Thị N, sinh năm 1969; có vợ là Rơ Mah P (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 22/8/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. (Đã xóa án tích)
  • - Ngày 08/12/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.

* Bị hại có kháng cáo: Bà Mai Thị N1, sinh năm 1977; địa chỉ: Làng D, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Ông Phan Quang H – Luật sư Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/11/2000, ông Rơ Châm B1 được Ủy ban nhân dân huyện I cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa số 50, 51 tờ bản đồ số 74, địa chỉ thửa đất tại xã I, huyện I. Năm 2009, ông B1 đã tặng cho cháu nội là anh Rơ Mah J thửa đất số 50, tờ bản đồ số 74 nên giao lại thửa đất cùng cây trồng trên đất cho anh J quản lý, sử dụng. Ngày 08/3/2011, ông B1 ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 51, tờ bản đồ 74 nêu trên cho Hà Văn B, nhưng do nhầm lẫn nên trong hợp đồng chuyển nhượng ghi chuyển nhượng cả thửa đất số 50 mà trước đây đã tặng cho anh Rơ Mah J. Đến năm 2016, ông Hà Văn Q là bố của Hà Văn B đã thuê lại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 74 của anh Rơ Mah J để canh tác (có giấy viết tay thuê đất), thời hạn thuê các bên thỏa thuận đến năm 2026 nên bị cáo Hà Văn B biết rõ có sự nhầm lẫn trong việc chuyển nhượng thửa đất số 50. Sau đó, vào năm 2018 giữa ông B1, Hà Văn BHà Văn Q cùng nhau giải quyết tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Bị cáo Hà Văn B và ông Hà Văn Q đều thừa nhận có sự nhầm lẫn khi lập hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 50, tờ bản đồ số 74 với ông B1 nhưng Hà Văn B cho rằng, vào thời điểm này Hà Văn B đang thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền tại ngân hàng nên chưa thực hiện trình tự, thủ tục để điều chỉnh lại giấy tờ và hẹn 01 năm sau sẽ sang tên trả cho anh Rơ Mah J.

Đến ngày 27/4/2018, Hà Văn B trả nợ xong cho Ngân hàng TMCP S1-Chi nhánh G và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện I xóa đăng ký thế chấp nhưng Hà Văn B không làm thủ tục sang tên trả thửa đất số 50, tờ bản đồ 74 cho Rơ Mah J theo cam kết trước đây mà Hà Văn B đã thỏa thuận chuyển nhượng cả 02 thửa đất cho bà Mai Thị N1. Vào ngày 07/8/2018, Hà Văn B ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 50, 51 tờ bản đồ 74 (GCN QSD đất số BĐ 254140 do UBND huyện I cấp ngày 30/3/2011) cho bà Mai Thị N1 với tổng số tiền 540.000.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định, thửa đất số 50 và 51, tờ bản đồ số 74 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vị trí thực tế là thửa đất số 51 và 53, tờ bản đồ 74. Đối với thửa đất ông Rơ Châm B2 chuyển nhượng cho Hà Văn B năm 2011, sau đó năm 2018, B chuyển nhượng cho bà N1 có vị trí thực tế là thửa đất số 53, tờ bản đồ 74 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông Rơ Mah S được UBND huyện I cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 6/11/2000 (không phải tên ông B2), tuy nhiên ông S không sử dụng thửa đất này mà sử dụng thửa đất bên cạnh. Ông B2, B, Niềm nhầm tưởng thửa đất trên là thửa số 51.

Quá trình điều tra cho thấy trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 50, 51 (vị trí thực tế là 51, 53) cho bà Mai Thị N1 thì Hà Văn B biết rõ bị cáo không có quyền sử dụng thửa đất số 51 tờ bản đồ số 74 vì thửa đất này đang do anh Rơ Mah J quản lý, sử dụng và sở hữu cây trồng trên đất nhưng Hà Văn B không cung cấp thông tin về việc thửa đất trên là của Rơ Mah J mà nói dối là thửa đất của mình để cố ý chuyển nhượng cho bà N1. Trong quá trình chuyển nhượng đất, bị cáo đã trực tiếp dẫn bà N1 đến xem đất, chỉ ranh giới đất để tạo niềm tin cho bà N1.

Lời khai của bà Mai Thị N1Hà Văn B có sự mâu thuẫn về số tiền chuyển nhượng. B khai chuyển nhượng để trừ số tiền B nợ bà N1 là 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng và tiền lãi đã vay của bà N1 trước ngày 07/8/2018 khoảng 01-02 tháng. Bà N1 khai không phải trừ nợ vay mà nhận chuyển nhượng 02 thửa đất của Ban với giá 540.000.000 đồng. Hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng C ghi giá chuyển nhượng là 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng. Tuy nhiên ngoài “Giấy vay tiền” đề ngày 07/8/2018 ra thì bà Mai Thị N1 không cung cấp được tài liệu chứng minh số tiền chuyển nhượng là 540.000.000 đồng.

Đối với Hà Văn Q: Quá trình điều tra xác định khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sự dụng đất trên cho bà Mai Thị N1, Hà Văn B không bàn bạc, trao đổi gì với ông Hà Văn Q, ông Hà Văn Q cũng không được hưởng lợi gì, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét trách nhiệm của ông Q.

- Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sơ thẩm số 07/2024/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Hà Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn B 04 năm tù.

    Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 08 năm 06 tháng tù tại Bản án số 47/2022/HS-ST ngày 03/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông. Buộc bị cáo Hà Văn B phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 12 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2021.

  2. Về dân sự: Căn cứ Điều 117, 122, 126, 127, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự:
    • Tuyên bố “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 08/3/2011 giữa ông Rơ Châm B1Hà Văn B; “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 07/8/2018 giữa Hà Văn B và bà Mai Thị N1 là vô hiệu đối với phần chuyển nhượng thửa đất số 50, tờ bản đồ số 74 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
    • Anh Rơ Mah J tiếp tục được quyền quản lý, sử dụng thửa đất cùng tài sản trên đất của thửa đất số 50 (vị trí thực tế là thửa đất số 51), tờ bản đồ số 74 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
    • Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 254140 do Ủy ban nhân dân huyện I cấp ngày 30/3/2011 cho Hà Văn B; đã chỉnh lý sang tên cho bà Mai Thị N1 để thực hiện việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 74 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
    • Buộc bị cáo Hà Văn B phải bồi thường cho bà Mai Thị N1 số tiền 179.125.300 đồng.

    Ngoài ra bản án còn tuyên quyền và nghĩa vụ thi hành án, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

- Kháng cáo của bị cáo:

Ngày 08/01/2024, bị cáo Hà Văn B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 06/01/2024, bị hại chị Mai Thị N1 kháng cáo toàn bộ bản án đề nghị sửa bản án sơ thẩm tuyên giao dịch dân sự giữa chị và bị cáo Hà Văn B có hiệu lực vì bị cáo Hà Văn B không lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị.

- Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hà Văn B rút toàn bộ kháng cáo. Bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342 và điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Hà Văn B và của bị hại Mai Thị N1 trong hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi giải quyết của Toà án cấp phúc thẩm, nên được xem xét.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hà Văn B rút toàn bộ kháng cáo nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo.

[3] Xét kháng cáo của bị hại bà Mai Thị N1 đề nghị sửa bản án sơ thẩm tuyên giao dịch dân sự giữa chị và bị cáo Hà Văn B có hiệu lực vì bị cáo Hà Văn B không lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Bà:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào năm 2000, ông Rơ Châm B1 được Ủy ban nhân dân huyện I cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 50 và 51 tờ bản đồ 74 (thực tế là thửa đất số 51 và 53) tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Đến năm 2009, ông Rơ Châm B1 đã tặng chỗ thửa đất số 50 (thực tế là 51), tờ bản đồ số 74 cùng cây trồng trên đất cho cháu nội là anh Rơ Mah J. Ngày 08/3/2011, ông B1 đã lập hợp đồng chuyển nhượng cho bị cáo Hà Văn B thửa đất số 51. Tuy nhiên, do nhầm lẫn nên hợp đồng ghi nhầm nội dung chuyển nhượng cả thửa đất số 50 và thửa đất số 51 cho bị cáo B. Bị cáo B thừa nhận biết có sự nhầm lẫn, vì vào năm 2016, cha của bị cáo là ông Hà Văn Q đã viết giấy thuê lại toàn bộ thửa đất của anh Rơ Mah J để canh tác; đồng thời vào năm 2018, giữa ông Rơ Châm B1 và bị cáo đã hòa giải nhiều lần tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai nên bị cáo biết rõ bản thân bị cáo không có quyền sử dụng, sở hữu thửa đất cùng cây trồng trên đất đang do anh Rơ Mah J sử dụng, sở hữu. Tuy nhiên, nhằm chiếm đoạt tiền của bà Mai Thị N1, bị cáo đã đưa ra các thông tin gian dối thửa đất số 50 và 51, tờ bản đồ số 74 tại xã I, huyện I đất cùng tài sản trên đất là của bị cáo quản lý, sử dụng, sở hữu để chuyển nhượng cho bà N2 với tổng số tiền 540.000.000 đồng. Trong đó, thửa đất số 50 cùng cây trồng trên đất đang thuộc quyền sở hữu, quản lý của anh Rơ Mah J qua định giá xác định có giá trị là 179.125.300 đồng.

Bị cáo Hà Văn B biết rõ thửa đất số 50 (thực tế là 51), tờ bản đồ số 74 là đang do anh Rơ Mah J quản lý, sử dụng và sở hữu đang canh tác trồng cây trên đất nhưng cố tình cung cấp thông tin gian dối, dẫn bà N1 đến xem đất, chỉ ranh giới tạo niềm tin là thửa đất của mình để chuyển nhượng cho bà N1 chiếm đoạt số tiền 179.125.300 đồng .

Do đó Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 50 (thực tế là 51), tờ bản đồ số 74 giữa bị cáo với bị hại bà N1 bị vô hiệu là có căn cứ. Kháng cáo của bị hại Mai Thị N1 là không có căn cứ để chấp nhận

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị hại. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí: Bị cáo Hà Văn B và bị hại Mai Thị N1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ Điều 342 và điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Hà Văn B.

  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

    • * Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn B 04 (B3) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
    • - Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 08 năm 06 tháng tù tại Bản án số 47/2022/HS-ST ngày 03/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông. Buộc bị cáo Hà Văn B phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 12 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2021.
    • * Căn cứ các Điều 117, 122, 126, 127, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự:
      • Tuyên bố “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 08/3/2011 giữa ông Rơ Châm B1Hà Văn B; “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 07/8/2018 giữa Hà Văn B và bà Mai Thị N1 là vô hiệu đối với phần chuyển nhượng thửa đất số 50, tờ bản đồ số 74 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
      • Anh Rơ Mah J tiếp tục được quyền quản lý, sử dụng thửa đất cùng tài sản trên đất của thửa đất số 50 (vị trí thực tế là thửa đất số 51), tờ bản đồ số 74 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
      • Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 254140 do Ủy ban nhân dân huyện I cấp ngày 30/3/2011 cho Hà Văn B; đã chỉnh lý sang tên cho bà Mai Thị N1 để thực hiện việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 74 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
      • - Buộc bị cáo Hà Văn B phải bồi thường cho bà Mai Thị N1 số tiền 179.125.300đ (Một trăm bảy mươi chín triệu một trăm hai mươi lăm ngàn ba trăm đồng)
    • Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  3. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí tòa án:

    Bị cáo Hà Văn B và bị hại Mai Thị N1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - CQCSĐT huyện Ia Grai;
  • - VKSND huyện Ia Grai;
  • - TAND huyện Ia Grai(2);
  • - Chi cục THADS huyện Ia Grai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, THS, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà

Nguyễn Văn Sinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HSPT ngày 19/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 29/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên BAHSST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger