Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÙ LAO DUNG

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày: 19-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thành Phước.

Ông Nguyễn Thành Tâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hoàng Ngọc, Thư ký Toà án nhân dân huyện

Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung tham gia phiên tòa:

Bà Lâm Kiều Phương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS, ngày 06/9/2024 đối với bị cáo:

Trần Thị L, sinh ngày 01/01/1975 tại C - Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T (s) và bà Võ Thị H (c); Anh, chị em ruột 08 người; Chồng Nguyễn Văn H1 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/6/2024 đến nay; (Bị cáo có mặt).

Bị hại: Bà Võ Thị H, sinh năm 1945 (chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại Võ Thị H: Ông Trần Văn P, sinh năm 1963 là con ruột của bị hại Võ Thị H (Được cha và các em: Trần Văn T, Trần Thị Liễu E, Trần Thị Cẩm C, Trần Văn T1, Trần Đức B, Trần Thị Thúy L1Trần Thị P1 uỷ quyền ngày 10/7/2024) (có mặt);

Cùng nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng

Người làm chứng:

  1. Ông Lâm Hoàng H2, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
  2. Ông Trương Văn B1, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng hơn 14 giờ, ngày 21/01/2024 khi nghe tin mẹ bị bệnh nên Trần Thị L, sinh ngày 01/01/1975 là con ruột của bà Võ Thị H ( có giấy phép lái xe) điều khiển xe mô tô biển số 83D1-007.39 có dung tích xi lanh 109 cm3 chở bà Võ Thị H đi khám bệnh tại chợ B2. Khi đang lưu thông trên Huyện lộ 10, đến đoạn đường thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Do thiếu quan sát không phát hiện lề lộ bên trái bị sụp lở nên lúc vượt qua xe Lu phía trước thì xe mô tô của L bị ngã làm cho bà Võ Thị H bị té đập đầu xuống lộ tử vong tại chỗ.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc xe mô tô, biển số: 83D1-007.39; 01 chiếc xe Lu biển số 50SA-0816 và 01 cái nón bảo hiểm.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 72/KLGĐTT-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Nguyên nhân chết của Võ Thị H là do bị tai nạn giao thông đường bộ té ngã gây chấn thương sọ não dẫn đến tử vong.

Với nội dung vụ việc như trên tại Bản Cáo trạng số: 20/CT-VKS-CLD ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Trần Thị L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây viết tắt là Bộ luật hình sự 2015).

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị L khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do bị cáo Trần Thị L khi tham gia giao thông không tuân thủ quy tắc về an toàn giao thông đường bộ là vượt không đảm bảo an toàn, không làm chủ tay lái và tự té ngã đã gây tai nạn làm thiệt hại đến tính mạng của người khác. Hành vi của bị cáo Trần Thị L đã vi phạm vào điểm đ khoản 5 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ năm 2008. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo L đã khai nhận hành vi vi phạm dẫn đến tai nạn làm cho nạn nhân Võ Thị H bị tử vong đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Thị L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Nên, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị L mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 02 (hai) đến 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại cơ quan điều tra xe Lu biển số: 50SA-0816 đã được xử lý trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên không đặt ra xét lại.

Trả lại cho bị cáo Trần Thị L 01 xe mô tô, biển số 83D1-007.39 và 01 cái nón bảo hiểm.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại Võ Thị H thống nhất với nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, ý kiến của kiểm sát viên, lời nhận tội của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo vì đây chỉ là lỗi vô ý làm cho mẹ ruột phải tử vong nên bị cáo đã đau khổ nhiều lắm rồi.

Bị cáo Trần Thị L nói lời sau cùng: Bị cáo thống nhất với cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của kiểm sát viên. Bị cáo rất ăn năn hối cải chỉ vì quá lo lắng khi thấy mẹ bệnh nên mới chở mẹ đi khám bệnh, không may gặp nạn làm cho mẹ phải tử vong, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để lao động phụ giúp gia đình nuôi con ăn học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 91, 92, 94, 98, 100, 102, 104, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, vắng mặt những người làm chứng. Xét thấy, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ rõ ràng. Đồng thời, tại phiên tòa vị Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đều đề nghị xét xử vắng. Xét thấy, sự vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nên căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường cũng như các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 21/01/2024 trên tuyến Huyện lộ 10 thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Trần Thị L là con ruột của bà Võ Thị H điều khiển xe mô tô biển số 83D1-007.39 chở mẹ ruột đi khám bệnh. Xe lưu thông theo hướng từ ấp S về xã Đ, Khi đến đoạn đường thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Do thiếu quan sát không phát hiện lề lộ bên trái bị sụp lở nên lúc vượt qua xe Lu phía trước thì xe mô tô của L bị ngã làm cho bà Võ Thị H té ngửa đập đầu xuống lộ tử vong tại chỗ.

Hành vi của bị cáo Trần Thị L là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo điều khiển phương tiện tham gia giao thông không tuân thủ các quy tắc về an toàn giao thông đường bộ là vượt không đảm bảo an toàn, không làm chủ tay lái và tự té ngã đã gây tai nạn làm thiệt hại đến tính mạng của người khác đã vi phạm vào điểm đ khoản 5 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ năm 2008. Xét thấy, hành vi của bị cáo Trần Thị L là “gây thiệt hại cho tính mạng của người khác” làm chết người là yếu tố định tội. Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Thị L đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét thấy, Cáo trạng số: 20/CT-VKS-CLD ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung truy tố bị cáo Trần Thị L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận hành vi phạm tội của mình; Bị cáo tự nguyện chi tiền lo mai táng cho nạn nhân là mẹ ruột đã mất và được các đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn không yêu cầu không xử lý hình sự đối với bị cáo; Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; có trình độ học vấn thấp (03/12) nên nhận thức pháp luật cũng còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước tại địa phương, có nhân thân tốt và nhiều tình tiết giảm nhẹ. Xét thấy, không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy, yêu cầu này là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, các đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại cơ quan điều tra xe Lu biển số: 50SA-0816 đã được xử lý trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên không đặt ra xét lại.

Trả lại cho bị cáo Trần Thị L 01 xe mô tô, biển số 83D1-007.39 và 01 cái nón bảo hiểm.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1] Tuyên bố bị cáo Trần Thị L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. [2] Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1 Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Trần Thị L: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và 02 (hai) năm thử thách, Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Trần Thị L cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Trần Thị L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Thị L cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

  3. [3] Về trách nhiệm dân sự: Do không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
  4. [4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Trả lại cho bị cáo Trần Thị L 01 chiếc xe mô tô biển số: 83D1-007.39 và 01 cái nón bảo hiểm.

    Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng, ngày 22/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung.

  5. [5] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
  6. [6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện CLD;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện;
  • - Sở TP tỉnh Sóc Trăng;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh ST;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger