|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 4 - 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Hồ Văn Dũng
- Bà Lê Huỳnh Ngọc Lý
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Chau Pholy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 103/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh L, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Văn N trình bày:
Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Ánh L tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là thị trấn) Ba Chúc vào ngày 27/12/2002. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về nuôi dạy con, bà L ghen tuông vô cớ. Từ năm 2018 cho đến nay, vợ chồng không còn sống chung. Hiện nay, ông không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn với bà L. Về con chung: Ông và bà L có 02 con chung đã trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bà L vắng mặt tất cả các lần Tòa án triệu tập, không cung cấp cho ý kiến về vấn đề khởi kiện của ông N.
Theo biên bản xác minh ngày 31/01/2024, đại diện khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang cho biết: Ông N và bà L chung sống với nhau từ năm 2002. Ông N và bà L đã không còn sống chung từ 04 năm nay, không rõ mâu thuẫn. Ông N vẫn còn sinh sống tại tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, bà L không còn thường xuyên sinh sống tại địa phương, không rõ đi đâu nhưng vẫn thường xuyên về thăm người thân.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Ông N vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, bà L vắng mặt tại tất cả các lần Tòa án triệu tập.
Tại phiên tòa,
Ông N vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bà L vắng mặt không có lý do.
Thay mặt Hội đồng xét xử, Thẩm phán công bố toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thực hiện việc xét xử đúng quy định. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tại Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt là vi phạm Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân, nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn là có cơ sở chấp nhận. Từ những phân tích đề nghị HĐXX xem xét quyết định.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Nguyễn Văn N1 bà Nguyễn Thị Ánh L tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã (nay là thị trấn) Ba Chúc, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 707, quyển số 04, ngày 27/12/2002, là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn Nhân và gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, có nghĩa vụ chung sống với nhau. Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, biên bản xác minh ngày 31/01/2024 tại Ban K, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, có cơ sở xác định: Ông N và bà L không còn sống chung đã hơn 04 năm nay. Như vậy, cho thấy giữa ông N và bà L đều đang không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và chung sống với nhau.
Về phía bà L, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên có cơ sở để nhận thấy, bà L không tìm cơ hội để hàn gắn tình cảm với ông N.
Nhận thấy hôn nhân giữa ông N và bà L lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên ông N yêu cầu ly hôn với bà L là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
[2.2] Về con chung: Giữa ông N và bà L có 02 con chung tên Nguyễn Chí H, sinh năm 1989 và Nguyễn Thị Tú H1, sinh năm 2021, tất cả đều đã thành niên.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí sơ thẩm: Ông N phải chịu án phí sơ thẩm, bà L không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn N được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ánh L.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 00012168 ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tri Tôn. Bà Nguyễn Thị Ánh L không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Về kháng cáo: Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Ánh L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt đúng quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Tâm |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn Nhân được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ánh Lan
