Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:29/2025/HS-ST

Ngày 19/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thân Thị Tuyến Nhung.
  2. Bà Hoàng Thị Hồng.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 258/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/HSST-QĐ ngày 23/01/2025 đối với bị cáo Phạm Thế H, sinh năm 1996; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lái xe; văn hóa: 11/12; con ông Phạm Văn T, sinh năm 1966 và bà Lài Thị D, sinh năm 1963; gia đình có hai chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại:

  1. Bà Đỗ Thị C, sinh năm 1966 (đã chết)
  2. Địa chỉ: Thôn Q, xã Q, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

    Người đại diện hợp pháp của bà C: Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1987

    Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

  3. Ông Hoàng Xuân T1, sinh năm 1966
  4. Địa chỉ: Thôn Q, xã Q, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Dương Ngọc V, sinh năm 1983
  2. Địa chỉ: Số 465, đường Hoàng Hoa Thám, tổ dân phố Tân Mai, phường Đa Mai, thành phố Bắc Giang

  3. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1966
  4. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt)

* Người làm chứng:

  1. Anh Hà Văn H1, sinh năm 1990
  2. Địa chỉ: Tổ dân phố Trại Nội, phường Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

  3. Ông Hà Văn L, sinh năm 1979
  4. Địa chỉ: Tổ dân phố Trại Nội, phường Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

  5. Ông Hà Văn L1, sinh năm 1966
  6. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Những người làm chứng đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diên biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thế H, sinh năm 1996 trú tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang có Giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] ngày 18/12/2023 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp. Hiển hợp đồng lái xe thuê cho anh Dương Ngọc V, sinh năm 1983 là giám đốc Công ty TNHH T2, địa chỉ số D, đường H, phường Đ, thành phố B và được anh V giao điều khiển xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu Chenlong BKS 98C-217.30, kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 98R-019.96 .

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, H điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-217.30, kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 98R-019.96 đi từ thành phố B đến thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh để nhận hàng. H điều khiển xe đi trên đường tỉnh lộ 299 thuộc địa phận thôn Đ, xã D, thành phố B. Tại thời điểm này có ông Hoàng Xuân T1, sinh năm 1966, trú tại thôn Q, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 98B1-266.95 chở vợ là bà Đỗ Thị C, sinh năm 1966 đang đi phía trước cùng chiều xe ô tô của H với tốc độ khoảng 40 đến 50km/h. Lúc này, H quan sát thấy phần đường phía trước nhỏ hơn và có một người phụ nữ điều khiển xe máy điện đi ngược chiều nên đánh lái sang phải theo chiều đi để tránh phương tiện ngược chiều và điều khiển xe từ đường to có nhiều làn đường vào đường nhỏ có hai làn đường. Do không chú ý quan sát nên khi vượt lên thì xe ô tô do H điều khiển va chạm với xe mô tô do ông T1 điều khiển; phần mặt ngoài la zăng trục bánh số 1 bên phải xe ô tô va chạm với đầu tay nắm và gương bên trái của xe mô tô. Sau khi va chạm, xe mô tô bị đổ sang bên trái, ông T1 và bà C bị ngã ra đường; phần bánh đôi trục bánh số 2 bên phải của xe ô tô chèn đè qua cơ thể bà C. H không biết đã xảy ra va chạm nên điều khiển xe đi tiếp với tốc độ bình thường. Thời điểm này, anh Hà Văn H1, sinh năm 1990 và anh Hà Văn L, sinh năm 1979, trú tại thôn T, xã D, thành phố B đi xe mô tô đi trên đường thấy xảy ra tai nạn. Lúc này, xe ô tô do H điều khiển đi được khoảng 200m. Anh H1 và anh L mỗi người đi một xe mô tô đuổi theo. Khi H điều khiển xe đi đến đoạn Công ty may thuộc địa phận thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thì anh H1 và anh L vượt lên chặn đầu xe thì H dừng lại. Anh L và anh H1 nói với H là xe ô tô của H vừa xảy ra tai nạn và đề nghị quay lại hiện trường. H nói không biết có tai nạn giao thông và bảo gọi Công an đến làm việc. Sau đó, Công an thành phố B đến thông báo cho H biết việc xe ô tô do H điều khiển đã va chạm với xe mô tô do ông T1 điều khiển thì H đã phối hợp với cơ quan Công an để làm việc.

Hậu quả ông T1, bà C bị thương được đưa đi Bệnh viện cấp cứu. Bà C bị thương nặng cấp cứu đến ngày 23/7/2024 thì bị chết. Kết quả kiểm tra xác định H, ông T1 không có nồng độ cồn và âm tính với chất ma tuý.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Nơi xảy ra vụ tai nạn là đường Tỉnh lộ 299 thuộc địa phận thôn Đ, xã D, thành phố B. Đây là đoạn đường thẳng, phẳng rộng 5,5m, có hai chiều xe chạy được phân cách bằng vạch kẻ sơn màu vàng, mỗi chiều đường đều có mặt đường rộng 2,75m.

Chọn cột đèn chiếu sáng số CS1 bên mép phải và mép phải đường tỉnh lộ 299 hướng từ đường N đến đường T làm điểm mốc chuẩn và mép chuẩn để tiến hành mô tả hiện trường vụ tai nạn giao thông.

  1. Là vị trí xe mô tô biển số 98B1 – 266.95 đổ nghiêng trái trên mặt đường đầu xe chếch hướng Tây Nam, đuôi xe chếch hướng T. Đo khoảng cách tâm đầu trục bánh trước sau xe mô tô biển số 98B1 – 266.95 cách mép chuẩn lần lượt là (0,85 và 0,4)m. Đo khoảng cách tâm đầu trục bánh sau xe mô tô biển số 98B1 – 266.95 cách điểm mốc chuẩn là 17,5m. Đo khoảng cách tâm đầu trục bánh trước xe mô tô biển số 98B1 – 266.95 cách mép trái đường Đ tính theo hướng từ đường T đến thôn Đ là 26,8m.
  2. Là vị trí vết cày xước trên mặt đường, vết có dạng đứt đoạn có chiều hướng từ T đến Đ kéo dài đến giữa thân xe mô tô biển số 98B1 – 266.95 vết có kích thước là (10,85x0,8)m. Đo khoảng cách tâm đầu vết cách mép chuẩn và điểm mốc chuẩn lần lượt là (0,5 và 6,9)m. Đo khoảng cách tâm đầu vết cách mép trái đường Đ tính theo hướng từ đường T đến thôn Đ là 15,8m.
  3. Là vị trí vết chất màu nâu đỏ (nghi máu) kéo dài đến vị trí bánh sau xe mô tô biển số 98B1 – 266.95 vết có kích thước (2,5x0,8)m. Vết có chiều hướng từ T đến Đ. Đo khoảng cách từ tâm đầu vết cách mép chuẩn và tâm đầu vết cày xước trên mặt đường (2) lần lượt là (0,9 và 8,5)m.
  4. Là vị trí vết chất màu nâu đỏ (nghỉ máu) trên mặt đường có kích thước (0,8 x0,2)m. Đo khoảng cách từ tâm vết cách mép chuẩn và tâm đầu trục bánh sau xe mô tô biển số 98B1 – 266.95 lần lượt là (1,05 và 1,95)m.
  5. Là vị trí vết chất màu nâu đỏ (nghi máu) bên mép phải đường bám dính trên cây cỏ tính theo hướng từ đường N đến đường T, vết có kích thước (1,5 x 0,8)m. Đo khoảng cách từ tâm vết cách mép chuẩn và tâm vết chất màu nâu đỏ nghi máu (4) lần lượt là (0,75 và 2,05)m.

Hiện trường nơi phát hiện xe ô tô đầu kéo biển số 98C – 217.30, kéo theo Sơ mi rơ moóc, biển số 98R – 019.96 tại khu vực đường tỉnh lộ 299 giao nhau giữa lối đi khu dân cư T và khu dân cư T, thuộc địa phận thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Vị trí xe ô tô đỗ trên mặt đường. Đầu xe chếch hướng đường T, đuôi xe chếch hướng đường T.

* Khám nghiệm xe mô tô Honda Dream biển số 98F6-5704:

Cần gương chiếu hậu trái xoay tự nhiên, cạnh ngoài cần chân gương có vết mài sát kim loại, sạch bụi kích thước (6 x 0,5)cm, vỡ khuyết mặt gáo gương.

Càng tay lái trái cong chùn hứng từ trên xuống dưới, từ trước về sau. Ốp nhựa đầu tay bên trái dập vỡ nhựa, bề mặt mài sát nhựa, bám dính bụi đất, tổng trên diện (17 x 11)cm.

Cạnh trên ốp kim loại đèn pha trước có vết mài sát kim loại, bám dính chất màu đen nghi cao su, kích thước (6,5 x 2)cm. Đầu ngoài tay nắm trái có vết mài sát cao su, rách cao su, tổng trên diện (3 x 3)cm.

Giỏ xe phía trước đầu xe cong vênh, bẹp móp, tại vị trí góc trái có vết mài sát mất sơn kim loại, tổng trên diện (16 x 15)cm.

Mặt ngoài má lốp bánh trước bên trái tại vị trí tương ứng với chân van có vết mài sát cao su sạch bụi, kích thước (12,5 x 3). Cạnh ngoài nút bấm khóa càng bánh trước bên trái có vết mài sát kim loại kích thước (3 x 0,8)cm.

Để chân trước bên trái cong chùn hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên; đầu ngoài bị mài sát kim loại, kích thước (1 x 1)cm. Đầu ngoài cần đạp chân trống giữa bên trái có vết mài sát kim loại, bám dính chất màu trắng dạng bột, kích thước (1 x 1)cm.

Cụm để chân sau bên trái gãy rời khỏi vị trí cố định; kiểm tra đầu ngoài cụm để chân có vết mài sát kim loại bám dính bụi đất kích thước (3 x 3)cm. Cạnh ngoài yên xe bên trái có vết mài sát da, kích thước (4 x 3,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 67,5cm.

Mặt ngoài má lốp bánh sau bên trái có vết mài sát cao su sạch bụi, kích thước (20 x 2,5)cm, điểm gần nhất cách chân van 40,5cm theo chiều kim đồng hồ. Đèn xi nhan bên phải bị dập vỡ khuyết kính nhựa, tổng trên diện (8,5 x 8,5)cm.

* Khám nghiệm xe ô tô đầu kéo biển số 98C – 217.30, kéo theo Sơ mi rơ moóc, biển số 98R – 019.96:

Mặt ngoài má lốp bánh trước bên phải có vết mài sát cao su sạch bụi kích thước (65 x 35)cm, điểm gần nhất cách chân van 23cm. Mặt ngoài la zăng bánh trước bên phải có vết mài sát kim loại, bề mặt bám dính chất màu đen, kích thước (3,9 x 1,5)cm. Mặt ngoài phía trước bầu lọc gió bên phải có vết mài sát nhựa sạch bụi kích thước (25 x 12)cm, điểm thấp nhất cách đất 62cm.

Mặt trước bình xăng bên phải có bám dính nhiều chất màu trắng, đỏ dạng mô cơ thể trên diện (40 x 35)cm, điểm thấp nhất cách đất 47cm. Mặt ngoài bên phải bình xăng có vết mài sát kim loại sạch bụi, kích thước (16x1)cm, điểm thấp nhất cách đất 7,7cm; cách cạnh trước bình xăng 57,5cm. Tại vị trí thấp nhất cách đất 75cm, điểm gần nhất cách cạnh trước bình xăng 88,5cm có vết mài sát kim loại sạch bụi, kích thước (13 x 7)cm.

Cạnh trước bên ngoài chắn bùn bánh thứ hai bên phải (tính từ đầu xe đến đuôi xe) có vết mài sát kim loại sạch bụi, kích thước (14 x 6)cm, điểm thấp nhất cách đất 69cm, mặt trong chắn bùn bám dính nhiều tạp chất dạng mô cơ thể.

Mặt ngoài má lốp trục bánh thứ hai bên phải (tính từ đầu xe đến đuôi xe) có nhiều vết mài sát cao su sạch bụi, bề mặt bám dính tạp chất dạng mô cơ thể trên diện (100 x 18)cm, điểm gần nhất cách chân van 31cm theo chiều tiến bánh xe.

Mặt ngoài vành trục bánh thứ ba bên phải (tính từ đầu xe đến đuôi xe) có bám dính tạp chất dạng mô cơ thể và chất màu nâu đỏ nghi là máu, kích thước (38 x 9)cm. Mặt ngoài vành trục bánh thứ tư bên phải (tính từ đầu xe đến đuôi xe) có vết mài cao su sạch bụi trên diện (68 x 19)cm.

Mặt ngoài má lốp trục bánh thứ năm (tính từ đầu xe đến đuôi xe) có vết mài sát cao su sạch bụi, kích thước (26 x 6)cm, điểm gần nhất cách chân van 56cm, ngược chiều tiến bánh xe.

Kiểm tra an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, đèn, còi, gương, phanh, ga, số hoạt động bình thường.

* Kết quả khám nghiệm tử thi Đỗ Thị C:

Khám ngoài:Hai lỗ mũi và khoang miệng có dịch màu đỏ hồng, chảy từ trong ra. Miệng khép không kín, hai môi phù nề. Vùng trán hai bên có diện dập rách, xây xát do cũ, bề mặt khô đóng vảy không rõ hình dạng được khâu bằng 12 mũi chỉ kích thước (12 x 7)cm, xung quanh bầm tím.

Phù nề toàn bộ vùng đầu, mặt. Mất cụt 1/3 giữa đùi trái mỏm cụt được bọc bằng bỉm màu trắng. Phía dưới còn đoạn chân đã cắt. Các vùng khác mặc quần áo kín gia đình không đồng ý cởi bỏ.

Mổ tử thi: Kiểm tra khoang mũi miệng thấy hệ thống răng không gẫy. Lưỡi trong cung răng, bên trong có nhiều dịch màu đỏ hồng, vùng chảy ra. Kiểm tra mỏm cụt thấy được bọc chắc chắn, qua đó không có dịch thấm ra.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định để xác định nguyên nhân chết của bà Đỗ Thị C và tỷ lệ thương tích của ông Hoàng Xuân T1.

Kết luận giám định tử thi số 1949/HLGĐTT-KTHS ngày 10/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:

  • Nguyên nhân chết của Đỗ Thị C do đa chấn thương không hồi phục: Chấn thương ngực kín; gãy xương chậu hai bên; dập nát phần mềm thành bụng, tầng sinh môn, đùi, cẳng bàn chân trái.
  • Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương tràn máu màng phổi, gãy xương cột sống, gãy xương chậu hai bên, dập nát phần mềm thành bụng, tầng sinh môn, đùi, căng bàn chân trái được hình thành do vật tày va đập và kết hợp chèn đè với lực tác động mạnh trực tiếp tạo nên.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2576/KLTTCT-TTPY ngày 30/8/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Hoàng Xuân T1 tại thời điểm giám định là 29% (Hai chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định cơ chế hình thành dấu vết trên hiện trường và phương tiện trong vụ tai nạn giao thông.

Kết luận giám định số 1961/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  1. Dấu vết mài sát kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su) tại mặt ngoài la zăng trục bánh số 1 bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C - 217.30 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 98R - 019.96, có hướng ngược chiều chuyển động tiến (ảnh số 10 đến 12 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát cao su tại mặt trên và mặt sau đầu ngoài tay nắm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 266.95, khi xe mô tô trong tư thế nghiêng trái, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 18 bản ảnh khám phương tiện).
    • Dấu vết mài trượt cao su, sạch bụi đất tại mặt ngoài má lốp trục bánh số 1 bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C - 217.30 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 98R - 019.96, có hướng ngược chiều chuyển động tiến (ảnh số 5 đến 9 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài trượt sơn, kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su) tại mặt trên bên trái ốp bảo vệ đèn chiếu sáng của xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 266.95, khi xe mô tô trong tư thế nghiêng trái, có chiều hướng từ trái sang phải (ảnh số 12, 13 bản ảnh khám phương tiện).
  2. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98C - 217.30 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 98R - 019.96 với xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 266.95 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 2, thuộc chiều chuyển động bên phải đường Tỉnh lộ 299 theo hướng đường N đi đường T.
  3. Dấu vết mài sát cao su, sạch bụi đất, bám dính mô cơ thể và chất màu nâu đỏ tại má ngoài lốp bánh đôi trục bánh số 2 bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C - 217.30 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 98R - 019.96 được hình thành do chèn đè qua cơ thể người (nạn nhân Đỗ Thị C) tạo nên. Chèn đè tại điểm đầu dấu vết màu nâu đỏ ký hiệu số 3 trên hiện trường.
  4. Chiều hướng va chạm: Tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện chuyển động cùng chiều theo hướng đường N đi đường T.
  5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chất nghi là tổ chức cơ thể người thu tại vị trí cạnh trước bình nhiên liệu bên phải và tại mặt ngoài má lốp trục bánh thứ hai bên phảixe ô tô BKS 98C-217.30, sơ mi rơ mooc biển số 98R-019.96.

Kết luận giám định số 5503/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của V1 Bộ C1 kết luận:

  1. Mẫu nghi tổ chức cơ thể người ghi thu tại vị trí cạnh trước bình nhiên liệu bên phải xe ô tô đầu kéo không phải là tổ chức cơ thể người.
  2. Mẫu nghi tổ chức cơ thể người ghi thu tại vị trí mặt ngoài má lốp trục bánh thứ hai bên phải (tính từ đầu xe đến cuối xe ô tô đầu kéo) là tổ chức cơ thể người. Kiểu gen phân tích được từ mẫu tổ chức cơ thể người này trùng hoàn toàn với kiểu gen của Đỗ Thị C.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định dữ liệu trích xuất từ camera an ninh của Công an thành phố và camera hành trình của xe ô tô đầu kéo biển số 98C-217.30 ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn giao thông.

Kết luận giám định số 1890/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video lưu trữ trong 02 (hai) đĩa DVD-R gửi giám định.
  2. Trích xuất được 22 (hai mươi hai) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định.

Kết quả xác minh xác định: Hiển được Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp Giấy phép lái xe ô tô hạng E/FC số 240141711272ngày 18/12/2023. Ông T1 được Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...], ngày cấp 18/7/2021.

Cơ quan điều tra đã cho Phạm Thế H thực nghiệm điều tra để kiểm tra khả năng, tầm quan sát khi điều khiển xe ô tô đầu kéo, kéo theo sơ mi rơ moóc. Kết quả xác định nếu H điều khiển xe chú ý quan sát qua gương chiếu hậu bên phải sẽ nhìn thấy xe mô tô do ông T1 điều khiển (bút lục 351-400). Kết quả điều tra xác định H điều khiển xe ô tô do không chú ý quan sát qua gương chiếu hậu phải; tại thời điểm xảy ra tai nạn thì H không biết đã va chạm với xe mô tô của ông T1 nên tiếp tục điều khiển xe đi khỏi hiện trường. Cơ quan điều tra kết luận H không cố ý bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-266.95. Kết luận định giá tài sản số 197 ngày 07/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố B kết luận xe mô tô bị hư hỏng trị giá 1.550.000 đồng.

Phạm Thế H và anh Dương Ngọc V đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 400.000.000 đồng trong đó H bồi thường 300.000.000 đồng; anh V bồi thường 100.000.000 đồng. Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã D, thành phố B là đại diện hợp pháp của bà C được uỷ quyền và ông T1 không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-217.30, Sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 98R-019.96 kèm theo giấy tờ xe cho anh Dương Ngọc V; trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98B1-266.95 cho ông Hoàng Xuân T1.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận hành vi như nêu trên.

Bản Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 27/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố Phạm Thế H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi của mình như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị xin lại Giấy phép lái xe ô tô đang bị tạm giữ.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai này.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán – Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333; khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Về tội danh và hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thế H từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 44 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Thế H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Về vật chứng: Trả lại bị cáo Phạm Thế H 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E/FC số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 18/12/2023 mang tên Phạm Thế H.
  • Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Thế H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên và không có tranh luận gì.

Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố B và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[2] Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi của bị cáo theo cáo trạng truy tố: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại Cơ quan điều tra; phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, đủ cơ sở kết luận: Phạm Thế H có giấy phép lái xe ô tô hạng E/FC số [...] ngày 18/12/2023 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp. Khoảng 08 giờ ngày 16/7/2024, H điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 98C-217.30, kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 98R – 019.96 đi trên đường T thuộc địa phận thôn Đ, xã D, thành phố B thì nhìn phía trước thấy chiều rộng đường đi nhỏ hơn và có người điều khiển xe máy điện đi ngược chiều. H đánh lái điều khiển xe sang bên phải đường để vượt lên, nhưng do không chú ý quan sát nên đã va chạm với xe mô tô BKS 98B1-266.95 do ông Hoàng Xuân T1 điều khiển chở vợ là bà Đỗ Thị C đang đi phía trước cùng chiều ở bên phải đường. Hậu quả làm bà C bị thương nặng được đưa đi cấp cứu đến ngày 23/7/2024 thì chết; ông T1 bị thương tích 29%.

Hành vi nêu trên của bị cáo H đã vi phạm khoản 2 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.

[4.] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm những quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tình mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông cũng như ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh xã hội. Khi tham gia giao thông bị cáo điều khiển xe ô tô đầu kéo, kéo theo sơ mi rơ moóc là nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng không làm chủ tốc độ, thiếu quan sát gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm bà Đỗ Thị C bị tử vong, ông Hoàng Xuân T1 bị thương tích.

[5] Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị Tòa án nào xét xử về tội gì, chưa bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào xử lý hành chính.

[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại và được bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại đã đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[8] Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý, bị cáo được bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử thấy không cần bắt bị cáo phải chịu hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo thì bị cáo cũng có thể tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo Phạm Thế H và anh Dương Ngọc V đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 400.000.000 đồng trong đó H bồi thường 300.000.000 đồng; anh V bồi thường 100.000.000 đồng. Đến nay, bị hại và đại diện của bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, trong vụ án không có đương sự nào yêu cầu về giải quyết về trách nhiệm dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự trong vụ án.

[10] Về vật chứng của vụ án:

  • Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-217.30, Sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 98R-019.96 kèm theo giấy tờ xe cho anh Dương Ngọc V; trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98B1-266.95 cho ông Hoàng Xuân T1, không đương sự nào có yêu cầu gì về các vật chứng nêu trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét vè vật chứng.
  • Đối với 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E/FC số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 18/12/2023 mang tên Phạm Thế H, cần trả lại cho bị cáo.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQD14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[12] Ngoài ra cần áp dụng quy định tại Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị.

[13] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với các bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán – Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333; khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về tội danh và hình phạt:
    • Xử phạt bị cáo Phạm Thế H 01 năm 08 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 03 năm 04 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Giao bị cáo Phạm Thế H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
    • Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
  2. Về vật chứng:
  3. Trả lại cho bị cáo Phạm Thế H 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E/FC số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 18/12/2023 mang tên Phạm Thế H.

  4. Về án phí:
  5. Buộc bị cáo Phạm Thế H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo:
  7. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, đại diện của bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

  8. Hướng dẫn thi hành án dân sự:
  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Thắng

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - UBND xã/phường nơi cư trú bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hiển - VPQĐTGGTĐB
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger