Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THÁI HOÀ

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày 18 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đậu Đức Đông.

2. Bà Phan Thị Hương Thanh

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nhung- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An, tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn Thái- Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 05/7/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngọc Hồng N, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10 tháng 10 năm 1979, tại N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 2/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngọc Hồng Q ( đã chết) và bà Võ Thị S, (đã chết); vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân:

  • - Năm 1996: Ngọc Hồng N bị UBND tỉnh N áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời gian 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/5/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Chị Trương Thị Hoa Q1, sinh năm 1986

Trú tại: Khối T, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An;

Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt);

N1 chứng kiến:

Anh Trần Minh T, sinh năm 1988

Trú tại: Xóm N, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An;

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 23/4/2024, Ngọc Hồng N đi khám bệnh tại bệnh viện Đ (thuộc xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An) để khám bệnh tiểu đường. Đến khoảng 8 giờ 20 phút cùng ngày, trong lúc chờ lấy kết quả khám bệnh thì N phát hiện có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung – Galaxy A23, có ốp lưng màu đen của chị Trương Thị Hoa Q1 (là nhân viên của bệnh viện Đ) đang để trên bàn hướng dẫn số 6 của bệnh viện, Ngọc Hồng N nghĩ rằng sau ốp điện thoại sẽ có tiền nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động của chị Q1. Sau khi quan sát xung quanh không thấy ai để ý, Ngọc Hồng N tiến lại gần lén lút dùng tay lấy trộm chiếc điện thoại của chị Q1 và bỏ vào túi quần mà N đang mặc rồi đi ra ngoài. Khi đi đến khu vực trước cổng bệnh viện, N lấy chiếc điện thoại vừa trộm cắp được ra kiểm tra rồi mở ốp lưng điện thoại ra xem thì thấy có 1.720.000 đồng, N lấy số tiền và cất dấu vào ví của mình rồi vứt chiếc ốp lưng điện thoại gần khu vực ghế đá của bệnh viện, sau đó N tháo sim điện thoại rồi cất dấu vào túi quần của mình.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản chị Trương Thị Hoa Q1 đã trình báo với Ban công an xã T, thị xã T. Ban công an xã T đã cử tổ công tác phối hợp với tổ bảo vệ của bệnh viện tiến hành xác minh sự việc. Khi lực lượng công an và tổ bảo vệ của bệnh viện tiến hành kiểm tra trích xuất dữ liệu từ camera, biết không thể che dấu được hành vi phạm tội của mình nên vào lúc 9 giờ 20 phút cùng ngày, Ngọc Hồng N đã đến gặp lực lượng chức năng xin đầu thú và giao nộp toàn bộ số tiền và tài sản mà N vừa chiếm đoạt của chị Trương Thị Hoa Q1.

Căn cứ kết bản kết luận định giá tài sản số 07/LKĐG ngày 02/5/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã T:

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung-Galaxy A23, màu đen (tại thời điểm xẩy ra sự việc ngày 23/4/2024) có trị giá là 900.000đ;
  • - 01 (một) chiếc ốp lưng điện thoại di động, chất liệu bằng cao su màu đen ( tại thời điểm xẩy ra sự việc ngày 23/4/2024) có trị giá là 20.000 đồng.

Như vậy tổng trị giá tài sản và số tiền mà Ngọc Hồng N đã chiếm đoạt của chị Trương Thị Hoa Q1 là 2.640.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 25 tháng 6 năm 20224, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố Ngọc Hồng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173- BLHS;

Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 - BLHS: Xử phạt bị cáo Ngọc Hồng N từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”.

Do bị cáo thường xuyên đau ốm, bệnh tật và không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo N.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Trương Thị Hoa Q1 đã nhận lại đủ số tiền và tài sản bị chiếm đoạt nay không có yêu cầu gì nên không xem xét;

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Bị cáo nhất trí về tội danh, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị và không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Đơn trình báo; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm và biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 23/4/2024 tại bệnh viện Đ; Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với bản tường trình, lời khai của những người bị hại trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã xác định được:

Vào khoảng 08 giờ 20 phút ngày 23/4/2024, tại bàn hướng dẫn số 6 của bệnh viện Đ ( thuộc xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An). Lợi dụng sơ hở của chị Trương Thị Hoa Q1 (nhân viên bệnh viện), Ngọc Hồng N đã lén lút chiếm đoạt của chị Q1 một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung – Galaxy A23 (có gắn ốp lưng) trị giá 920.000 đồng và số tiền 1.720.000 đồng (để trong ốp lưng điện thoại). Tổng trị giá tài sản và số tiền mà N chiếm đoạt của chị Trương Thị Hoa Q1 là 2.640.000 đồng.

Hành vi của Ngọc Hồng N đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" nên N phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 173- Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi “Trộm cắp tài sản” là bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng với thái độ xem thường pháp luật, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần đưa vụ án ra xét xử công khai, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[3] Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: bị cáo không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể năm 1996, Ngọc Hồng N bị UBND tỉnh N áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời gian 24 tháng về hành vi “ Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong ngày 07/02/2000.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thật thà khai báo, ăn nối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Trong quá trình cơ quan điều tra đang xác minh vụ việc, bị cáo đã tự nguyện đến đầu thú, khai báo hành vi phạm tội của mình; bị cáo có mẹ đẻ là bà Võ Thị S được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng nhì. Vì vậy bị cáo được hưởng tính tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015;

Nhận thấy số tiền bị cáo chiếm đoạt không lớn, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, vì vậy cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm.

[4] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 -Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và khoản 3 Điều 36 - Bộ luật hình sự quy định trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều thấy rằng: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn sống một mình và thường xuyên đau ốm. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Trương Thị Hoa Q1 đã nhận lại toàn bộ tài sản theo biên bản ngày 07/5/2024 và không có ý kiến, yêu cầu gì nên không xem xét.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Điều 36-BLHS năm 2015.

Xử phạt bị cáo Ngọc H Nam 12 ( mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Ngọc Hồng N.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo N được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Ngọc Hồng N về cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành cải tại không giam giữ.

Án phí: Căn cứ Điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án). quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Ngọc Hồng N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an thị xã Thái Hòa;
  • - VKSND thị xã Thái Hòa;
  • - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Thái Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST Ngọc Hong Na
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger