TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 29/2024/HS-PT Ngày 17 - 4 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Út
Các Thẩm phán: Ông Trịnh Xuân Miễn
Ông Nguyễn Trọng Quế
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Yến, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Trúc Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024, do có kháng cáo của Nguyễn Vũ D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2024/HS-ST ngày 24 – 01 – 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Vũ D, giới tính: N, sinh năm: 2003, nơi cư trú: Khóm E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, nghề nghiệp: Công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân tại Đại đội Cảnh sát Bảo vệ Mục tiêu thuộc Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh C (Bị tước danh hiệu), trình độ học vấn: 12/12. Con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1970 và bà Trịnh Hồng H1, sinh năm 1975; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Cấm đi khỏi nơi cư trú: Ngày 09/10/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Tố N1 thuộc Văn phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
Bị hại:
- Bà Lê Thị N2, sinh năm 1974. Địa chỉ cư trú: Số B, đường 1 tháng 5, khóm G, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Ông Dương Huỳnh K, sinh năm 1963. Địa chỉ cư trú: Số A, đường N, khóm E, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bà Bùi Thị Huyền T, sinh năm 1987. Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở: Nhà trọ T3, đường P, khóm H, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bà Trần Thị Hồng N3, sinh năm 1991. Địa chỉ cư trú: Khóm D, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1977. Địa chỉ cư trú: Khóm D, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Ông Đỗ Quốc T2, sinh năm 1980. Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (không triệu tập):
- Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1970. Địa chỉ cư trú: Khóm E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Ông Tô Hoàng M, sinh năm: 1980. Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian bị cáo Nguyễn Vũ D là công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân tại Công an tỉnh C được Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh C phân công canh gác bảo vệ mục tiêu trụ sở Hội đồng nhân dân tỉnh C. Từ khoảng đầu tháng 7 năm 2023 đến ngày 04/10/2023, bị cáo được bố trí canh gác và ngủ nghỉ tại trụ sở Hội đồng nhân dân tỉnh C thuộc khóm H, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau; bị cáo Duy thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản cá nhân tại các phòng làm việc, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào đầu tháng 7 năm 2023 ông Tô Hoàng M1 (Trưởng phòng tổ chức Cơ quan Hội đồng nhân dân tỉnh C) nhờ 04 đồng chí trực tại Cơ quan, trong đó có bị cáo D vào phòng ông M1 khiêng bàn ghế để sắp xếp lại phòng làm việc. Khi mọi người ra khỏi phòng, bị cáo nhìn thấy trên bức tranh treo tường phòng làm việc của ông M1 có tiền nên nảy sinh ý định lấy trộm. Bị cáo lén lút lấy trộm của Mảnh tiền Việt Nam 300.000đ và 01 tờ đô la Mỹ mệnh giá 2 USD, cất giấu vào túi quần. Bị cáo D tiêu xài hết số tiền 300.000đ, còn lại 01 tờ đô la Mỹ mệnh giá 2 USD, D cất giấu trong tủ ở phòng ngủ.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 103 ngày 13/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Một tờ tiền đô la Mỹ có mệnh giá 2 USD có giá là 46.590đ.
Lần thứ hai: Vào khoảng 00 giờ ngày 25/9/2023 bị cáo D lấy chìa khóa của các phòng ở tầng 2 đi đến phòng làm việc của bà Lê Thị N2 (Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh C) dùng chìa khóa để mở cửa phòng. Khi mở được cửa phòng, bị cáo D đi đến bàn làm việc của bà N2 dùng tay mở các hộc bàn không khóa và dùng điện thoại di động để soi tìm tài sản trong các hộc bàn. Bị cáo D mở hộc bàn bên phải bàn làm việc của bà N2 tìm thấy túi giấy, đựng nhiều bao lì xì, bên trong các bao lì xì có nhiều tờ tiền Đô la Mỹ các mệnh giá 1 USD, 2 USD, 5 USD, 10 USD, 20 USD, 100 USD, tổng cộng là 687 USD; một tờ tiền Campuchia mệnh giá 500 R và một bao lì xì có các tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng, 50.000 đồng, 100.000 đồng, 200.000 đồng, 500.000 đồng, tổng cộng là 870.000đ; Hai túi rút màu đỏ bên trong mỗi túi có 01 miếng vàng (01 miếng hiệu PNJ và 01 miếng hiệu SJC); 03 miếng kim loại hình chữ nhật màu đồng ở trên 03 miếng da, bị cáo D lấy trộm tất cả và cất giấu vào túi quần bên phải. Sau khi lấy trộm tài sản xong, bị cáo D khóa cửa phòng làm việc lại như cũ.
Tiếp đó, bị cáo D đi đến phòng làm việc của ông Dương Huỳnh K (Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh C), mở cửa thì thấy cửa không khóa, nên bị cáo D vào phòng làm việc của ông K tìm tài sản lấy trộm. Bị cáo D đi đến bàn làm việc của ông K để lục tìm tài sản, thấy có chìa khóa trên bàn, nên tra vào các ổ khóa và mở được hộc bàn bên phải. Bị cáo Duy lục hộc bàn bên trên bàn làm việc của ông K nhìn thấy có nhiều tờ tiền nước ngoài gồm: 04 tờ tiền Nga mỗi tờ mệnh giá 50 Rubles, tổng cộng 200 Rubles; 12 tờ Lào (04 tờ mệnh giá 500 Kip, 04 tờ mệnh giá 1.000 Kip, 01 tờ mệnh giá 2.000 Kip, 03 tờ mệnh giá 10.000 Kip), tổng cộng 38.000 Kip; 01 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 5 Nhân dân tệ; 04 tờ tiền Campuchia (03 tờ mệnh giá 100 Riels, 01 tờ mệnh giá 1.000 Riels), tổng cộng 1.300 Riels. Bị cáo D lấy trộm tài sản trên của ông K và đem về cất giấu ở giường ngủ của mình.
Tại Công văn số: 8309 ngày 27/10/2023 của Ngân hàng N5, về việc cung cấp tỷ giá như sau: 1 Rúp N4 có giá trị là 248,82 Việt Nam đồng, 01 Nhân dân tệ Trung Quốc có giá trị là 3.299,22 Việt Nam đồng, 1 Riêl Campuchia có giá trị là 5,86 Việt Nam đồng, 1 Kíp Lào có giá trị là 1,2 Việt Nam đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 103 ngày 13/10/2023 và số 112 ngày 08/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: 687 USD có giá trị là 16.003.665 đồng, 500 Riels có giá trị là 2.930 đồng, 02 chỉ vàng SJC có giá trị là 13.800.000 đồng, 200 Rubles có giá trị là 49.764 đồng, 38.000 đồng Kip có giá trị là 45.600 đồng, 05 Nhân dân tệ có giá trị là 16.496 đồng, 1.300 Riels có giá trị là 7.618 đồng.
Đối với số tài sản vừa trộm được của các bị hại trên, ngày 26/9/2023 bị cáo D mang 02 miếng vàng đến tiệm V” thuộc khóm B, phường G, thành phố C bán được 11.200.000 đồng; tiền đô la Mỹ bị cáo đem đến tiệm vàng “K" thuộc phường B, thành phố C bán 02 lần được 8.650.000 đồng; 09 tờ tiền nước ngoài bị cáo cất giấu trong tủ ở phòng ngủ; 03 miếng hình chữ nhật màu đồng thì 01 miếng bị cáo ném bỏ phía sau cơ quan và 02 miếng bị cáo cất giấu trên Hội trường tầng 3 của Hội đồng nhân dân tỉnh C; số tiền nước ngoài bị cáo D lấy trộm của ông Dương Huỳnh K, thì cất giấu bên trong gối nằm của bị cáo đã bị Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh C kiểm tra thu giữ.
Lần thứ ba: Vào khoảng 00 giờ ngày 30/9/2023 bị cáo Nguyễn Vũ D tiếp tục đến vị trí bàn nước tầng trệt lấy chùm chìa khóa của các phòng ở tầng 1 và đi đến phòng “Công tác Hội đồng nhân dân”. Tại đây, bị cáo D dùng chìa khóa để mở cửa phòng, khi mở được cửa phòng bị cáo D dùng điện thoại di động soi tìm tài sản để lấy trộm. Bị cáo D dùng chìa khóa của cánh tủ khác cạy mở ổ khóa tủ làm hư ổ khóa tủ của Bùi Thị Huyền T (Cán bộ - Phòng Công tác Hội đồng nhân dân tỉnh C), lấy trộm một bao thư màu trắng bên trong có số tiền Việt Nam 12.300.000 đồng cất giấu vào túi quần.
Bị cáo tiếp tục đi đến bàn làm việc của bà Trần Thị Hồng N3 (Cán bộ - Phòng Công tác Hội đồng nhân dân tỉnh C) mở hộc bàn làm việc thì thấy có một bao thư bên trong có số tiền Việt Nam 500.000 đồng bị cáo D lấy trộm số tiền trên cất giấu vào túi quần và khóa cửa lại như cũ.
Đối với tài sản vừa trộm được của các bị hại trên bị cáo D cất giấu vào bên trong gối nằm cùng với số tiền bán vàng, bán tiền đô la Mỹ trước đó. Đến ngày 01/10/2023 bị cáo D lên facebook thấy có người đăng bán xe hiệu Vario với giá 29.000.000 đồng, nên D đã sử dụng tiền vừa trộm được mua xe trên. Đến ngày 02/10/2023 thì bị cáo D nhận được xe đã đăng ký mua và bị Công an thu giữ xe trên.
Lần thứ tư: Vào khoảng 00 giờ ngày 04/10/2023 bị cáo Nguyễn Vũ D tiếp tục đến vị trí bàn nước ở tầng trệt lấy chùm chìa khóa của các phòng ở tầng 2 và đi đến phòng làm việc của ông Nguyễn Đức T1 (Phó trưởng Ban văn hóa – xã hội Hội đồng nhân dân tỉnh C) dùng chìa khóa để mở cửa phòng. Bị cáo D đi đến bàn làm việc của ông T1 dùng tay mở các hộc bàn không khóa và dùng điện thoại di động để soi tìm tài sản trong các hộc bàn. Bị cáo D mở hộc bàn bên phải bàn làm việc của ông T1 phát hiện có một túi giấy bên trong có một bao thư màu trắng có chữ “Hội đồng nhân dân” bên trong có số tiền Việt Nam 4.500.000 đồng, nên D lấy trộm số tiền trên và cất giấu vào túi quần.
Lấy trộm tiền trong phòng làm việc của ông T1 xong, D tiếp tục đi đến “Phòng Công tác Quốc Hội”. Tại đây bị cáo D dùng chìa khóa để mở cửa phòng, khi vào phòng thì D dùng điện thoại di động soi tìm tài sản lấy trộm. Tại phòng làm việc của ông Đỗ Quốc T2 (Cán bộ - Phòng Công tác Quốc Hội) thì D nhìn thấy một cái cặp để trên ghế trong phòng làm việc. D mở cặp ra phát hiện 04 bao thư màu trắng có chữ “Hội đồng nhân dân” bên trong mỗi bao thư có số tiền Việt Nam 80.000 đồng, tổng cộng 320.000 đồng. D lấy trộm số tiền 320.000 đồng của ông T2 cất giấu vào túi quần.
Đối với tài sản vừa trộm được của các bị hại trên, số tiền 320.000 đồng D lấy trộm của ông Đỗ Quốc T2, thì D đã tiêu xài cá nhân hết; và số tiền 4.500.000 đồng D lấy trộm của ông Nguyễn Đức T1 thì D đã tiêu xài cá nhân hết 1.500.000 đồng, còn lại 3.000.000 đồng D để trong người khi bị Công an mời làm việc đã thu giữ số tiền trên.
Đối với tài sản đã trộm được đã trả lại, cụ thể:
- Ngày 23/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho ông Tô Hoàng M1 một tờ đô la Mỹ mệnh giá 2 USD và số tiền 300.000đ. Hiện ông Tô Hoàng M1 yêu cầu xử lý bị cáo D theo pháp luật hình sự và không yều cầu về phần dân sự đối với D.
- Ngày 23/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho bà Lê Thị N2 06 tờ đô la Mỹ mệnh giá 2 USD, 01 tờ đô la Mỹ mệnh giá 1 USD, 01 tờ tiền Campuchia mệnh giá 500 Riels, tiền Việt Nam 30.370.830 đồng và 02 thẻ. Hiện bà Lê Thị N2 yêu cầu xử lý Nguyễn Vũ D theo pháp luật hình sự và không yêu cầu về phần dân sự đối với bị cáo D.
- Ngày 23/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho ông Dương Huỳnh K 04 tờ tiền Nga mỗi tờ mệnh giá 50 Rubles, 12 tờ tiền Lào (04 tờ mệnh giá 500 Kip, 04 tờ mệnh giá 1.000 Kip, 01 tờ mệnh giá 2.000 Kip, 03 tờ mệnh giá 2.000 Kip), 04 tờ tiền Campuchia (03 tờ mệnh giá 100 Riels, 01 tờ mệnh giá 1.000 Riels). Hiện ông Dương Huỳnh K yêu cầu xử lý Nguyễn Vũ D theo pháp luật hình sự và không yêu cầu về phần dân sự đối với D.
- Ngày 23/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho bà Bùi Thị Huyền T số tiền Việt Nam 12.300.000 đồng. Hiện bà Bùi Thị Huyền T yêu cầu xử lý Nguyễn Vũ D theo pháp luật hình sự và không yêu cầu về phần dân sự đối với D.
- Ngày 23/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho bà Trần Thị Hồng N3 số tiền Việt Nam 500.000 đồng. Hiện bà Trần Thị Hồng N3 yêu cầu xử lý Nguyễn Vũ D theo pháp luật hình sự và không yêu cầu về phần dân sự đối với D.
- Ngày 23/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho ông Nguyễn Đức T1 số tiền Việt Nam 4.500.000 đồng. Hiện ông Nguyễn Đức T1 yêu cầu xử lý Nguyễn Vũ D theo pháp luật hình sự và không yêu cầu về phần dân sự đối với D.
- Ngày 23/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho ông Đỗ Quốc T2 số tiền Việt Nam 320.000 đồng. Hiện ông Đỗ Quốc T2 yêu cầu xử lý Nguyễn Vũ D pháp luật luật hình sự và không yêu cầu về phần dân sự đối với D.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2024/HS-ST ngày 24 – 01 – 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 điều 173, điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 Các Điều 89, 106, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Nguyễn Vũ D chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý tang vật, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 05-02-2024, bị cáo Nguyễn Vũ D kháng cáo cho rằng án sơ thẩm tuyên xử 01 năm tù giam là mức án nghiêm khắc; bị cáo xin hưởng án treo; trường hợp không cho hưởng án treo, thì xin được giảm án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Vũ D giữ nguyên kháng cáo.
- Luật sư phát biểu: Do bị cáo D chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; nhiều bị hại đã có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo; đồng thời cha mẹ bị cáo có nhiều bệnh. Từ đó, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tội danh: Tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm, xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Vũ D phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và tang vật thu được, do đó có căn cứ khẳng định: Vào khoảng đầu tháng 7 năm 2023 Nguyễn Vũ D lén lút trộm cắp tài sản của ông Tô Hoàng M trị giá 346.590 đồng (lần này số tiền bị cáo D trộm cắp chưa đủ cấu thành tội phạm). Đến ngày 25/9/2023 Nguyễn Vũ D tiếp tục trộm cắp nhiều loại tài sản của bà Lê Thị N2 và ông Dương Huỳnh K trị giá 30.796.073 đồng; đến ngày 30/9/2023 Nguyễn Vũ D tiếp tục trộm cắp tài sản của bà Bùi Thị Huyền T và bà Trần Hồng N3 với số tiền 12.800.000 đồng và đến ngày 04/10/2023 Nguyễn Vũ D tiếp tục trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Đức T1 và ông Đỗ Quốc T2 số tiền 4.820.000 đồng. Tổng số tiền 03 lần trộm tiếp theo truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là 48.416.073 đồng.
Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn Vũ D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
- Xét lý do kháng cáo xin hưởng án treo hoặc giảm án của bị cáo, bị cáo cho rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hiện hoàn cảnh gia đình cha mẹ bị cáo bệnh nhiều. Ngoài ra, tại cấp phúc thẩm các bị hại Bùi Thị Huyền T, Trần Thị Hồng N3, Đỗ Quốc T2 đều có đơn yêu cầu xin cho bị cáo D hưởng án treo. Thấy rằng: Xét tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo Nguyễn Vũ D gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân, lười lao động, chỉ trong một thời gian ngắn mà bị cáo đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản (trong đó có 01 lần trộm dưới 2.000.000 đồng) ngay tại cơ quan bị cáo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, điều đó gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội, gây bất bình trong dư luận. Khi lượng hình, Bản án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (do bị cáo phạm tội nhiều lần, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại; bị cáo có ông ngoại có công cách mạng) điều này là phù hợp. Mặc dù, tại cấp phúc thẩm có 03 bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo, nhưng xét tính chất, mức độ thực hiện tội phạm, cũng như hậu quả tác động xấu do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần phải cách ly bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn mới đảm bảo tính răn đe, cải tạo bị cáo trở thành một công dân tốt cho xã hội. Do đó, xét kháng cáo xin hưởng án treo hoặc giảm án của bị cáo, cũng như phát biểu đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo là không được chấp nhận. Cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm theo ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp.
- Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
- Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Vũ D. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2024/HS-ST ngày 24 – 01 – 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về hình phạt.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ D 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Vũ D phải chịu 200.000 đồng (chưa nộp).
- Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Huỳnh Văn Út |
Bản án số 29/2024/HS-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 29/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Vũ Duy phạm tội trộm cắp tài sản
