1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày 17 tháng 4 năm 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thanh Liêm, Nguyễn Thành Phước.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.
Ngày 10 và ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (Cu Ba T1), sinh năm 1993. Nơi cư trú: khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1974 và bà Hồ Thị Tuyết T3, sinh năm 1972; chị em ruột có 4 người, bị cáo là người thứ ba; bị cáo chưa có vợ, con.
Ngày 22/02/2021, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Ngày 28/6/2023, bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A khởi tố về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Ngày 07/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 01 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” và 01 năm tù, tội về “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt 02 tội là 02 năm tù.
Ngày 19/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 03 năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
2
Tiền án: Ngày 30/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 02 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 10/02/2020, chấp hành xong hình phạt.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam trong một vụ án khác từ ngày 18/5/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Anh Trần Minh T4 (Tèo B, Tèo V), sinh năm 1984. Nơi cư trú: khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt)
- Anh Trần Hoàng T5, sinh năm 1986. Nơi cư trú: khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt)
Người làm chứng:
- Anh Lê Đức H, sinh năm 1997 (vắng mặt)
- Anh Phạm Xuân T6, sinh năm 1995 (có mặt)
- Anh Lê Thanh N, sinh năm 1996 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05/12/2020, sau khi dự đám cưới của Võ Văn C, Nguyễn Văn T, Lê Đức H, Nguyễn Nhựt T7, Ngô Văn C1, Trần Hiếu T8, Nguyễn Văn V điều khiển xe mô tô đến quán karaoke “Đông Đô” để hát, khi đến ngã ba C ở khóm Đ, thị trấn N, huyện T thì gặp Trần Hoàng T5 nên giữa T5 và T, H xảy ra cự cãi rồi thách thức đánh nhau. Sau đó, nhóm T chạy xe về nhà Hồ Quốc H1 (T, cậu ruột của T), còn T5 đi vào nhà trọ bạn gái Trương Thị Cẩm T9 ở khóm Đ, thị trấn N, huyện T. T9 thấy T5 và T cự cãi nghĩ sẽ đánh nhau nên điện thoại cho Trần Minh T4 và Trần Thị Yến N1 vợ của Võ Văn N2 hay. Sau đó, nhóm của T4 gồm T4, Nguyễn Ngọc T10, Phan Xuân T11, Trần Văn P, Trịnh Văn N3 ở quán cà phê “Thôn S” và Lý S1, Nguyễn Ngọc C2, Nguyễn Văn D ở nhà trọ T5. Cu điện thoại cho Đoàn Công M đến nhà Trần Trọng H2 lấy bao đựng dao tự chế, mã tấu rồi M để trên chuồng gà của Nguyễn Trọng H3, C2 lấy bao đựng dao đưa nhóm T5.
Cùng thời gian này, Quách Văn L, Đặng A T12 điều khiển xe mô tô đến nhà H1. T điện thoại cho Lê Thanh N, Lê Tuấn C3 lấy bao đựng dao tự chế, mã tấu, đồng thời, điện thoại cho Chung Minh C4 kể lại việc cự cãi với T5 và kêu C4 đến tiếp đánh T5. C4 kêu thêm Nguyễn Tú A1, Phạm Phước L1, Phạm Cao Đ, A B, Võ Thanh S2, Võ Quốc H4, Dương Hoài S3, Nguyễn Minh T13, Đỗ Văn L2, B1 chưa xác định họ tên, địa chỉ và Bùi Quốc Q tài xế điều khiển xe ô tô biển số 61B-016.46 chở nhóm C4 đến nhà H1. Lúc này, N, C3 điều khiển xe mô tô chở theo bao đựng dao đến nên T kêu để vào bên chòm mã gần nhà H1. Sau đó, T vào nhà H1 lấy cây dao tự chế cất giấu trong người rồi T, H lên xe ô tô cùng nhóm C4, Q điều khiển chở cả nhóm xuống nhà trọ bạn gái T5. T chỉ tay
3
về hướng nhà trọ và dùng lời lẽ thô tục chửi T5 rồi lên xe ô tô đi về hướng nhà H1 khoảng 50m dừng lại, riêng Q điều khiển xe mô tô về nhà H1 gửi. T, H, T7 xuống xe cùng nhóm C4 đi bộ đến nhà trọ T5, T tiếp tục chửi thách thức, nhưng T5 không ra thì T4 đi lên kêu T, đồng thời Tương, T10 mỗi người cầm một khẩu súng bắn đạn cao su chạy theo Triết, T10 bắn hai phát súng thì nhóm của T, C4 bỏ chạy về hướng nhà của H1. Lúc này, Lý S1 cầm dao tự chế, T5 cầm kiếm nhật, P nhặt mãnh bê tông, N3, T14 không cầm hung khí rượt đuổi nhóm của T, C4 thì T11 bắn thêm một phát súng nữa. Khi gần đến nhà của H1, T, T12, T7, H, L, C4, A B mỗi người cầm một dao tự chế đã chuẩn bị trước đó, H4 nhặt một đoạn cây dài khoảng 40cm, Đặng nhặt hai cục đá ném, nhóm của T5, còn S3, S2 chạy vào nhà dân, Tú A1, L1, T13 chạy lên xe ô tô. Sau khi nhóm của T lấy được dao thì xông vào đánh nhau, nhóm của T4 bỏ chạy, T5 bị vấp ngã rớt cây kiếm bị nhóm T dùng dao chém gây thương tích, T4 bị chém té khum người về trước nhặt lấy cây kiếm của T5 quay người định đứng dậy bị T cầm dao tự chế chém trúng trán làm rách phần da trên trán phủ xuống hai mắt nên té ngã cặp mé lộ nhựa thì bị chém thêm một nhát trúng cánh tay trái nhưng không rõ ai chém. Sau đó, nhóm của T bỏ trốn. Còn T4, T5 được đưa đến trung tâm y tế huyện T cấp cứu điều trị. Riêng T4 được chuyển đến Bệnh viện Đ1 điều trị rồi chuyển đến Bệnh viện C5 và phục hồi chức năng Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 21/12/2020 xuất viện. Sau đó, chuyển đến Viện pháp y tâm thần Trung ương B2, tỉnh Đồng Nai điều trị đến ngày 06/01/2021, ra viện.
Ngày 07/12/2020, Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T có Công văn số 497/CV-UBND đề nghị xử lý các đối tượng hoạt động băng nhóm gây mất an ninh trật tự trên địa bàn thị trấn N.
Ngày 01/02/2021, Nguyễn Văn T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T Quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, nhưng sau đó T bỏ trốn. Đến ngày 18/5/2023, T bị bắt theo quyết định truy nã trong vụ án khác.
Vật chứng thu giữ:
01 viên đạn màu vàng ký hiệu YAS GLD PAK 9mm dài 2,2cm, đường kín 0,8cm, đầu đạn bằng cao su màu đen; 02 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, ký hiệu OZK 9mm P-A dài 2,2cm, đường kính 0,8cm; 01 bao vải màu đen, hình con dao kích thước: 57 x 7,4 cm; 01 vỏ kiếm bằng gỗ màu xanh đen kích thước 77 x 4,5 x 2,2 cm, một đầu quấn dây vải màu đen; 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen số: [...], kích thước 20 x 13,5 x 2,5cm; 01 dao tự chế bằng kim loại dài 58cm, cán bằng nhựa màu đen dài 13cm, lưỡi bằng kim loại, một bên lưỡi sắc bén, màu trắng đen; 01 dao tự chế bằng kim loại dài 77 cm, cán bằng kim loại dài 24,5cm, lưỡi dao bằng kim loại, một bên lưỡi dao sắc bén, màu đen; Nhiều mảnh vỡ gạch đỏ, bê tông và nhiều đồ vật liên quan.
Tại các Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 455/20/TgT ngày 10/3/2021, số 454/20/TgT, số 158/21/TgT ngày 05/4/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận:
- - Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Hoàng T5 do thương tích gây nên hiện tại là: 12%.
4
- - Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Minh T4 do thương tích gây nên hiện tại là: 48%.
- - Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Đức H do thương tích gây nên hiện tại là: 01%.
Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số: 99/2021/KLGĐ và Công văn số 99.0/PY ngày 29/4/2021 của Trung tâm P2, xác định Trần Minh T4:
- - Về y học: Trước, trong khi phạm tội: Đương sự không bệnh lý tâm thần. Sau khi phạm tội và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Hội chứng sau chấn động não, mức độ suy não chấn thương (F07.2 - ICD10).
- - Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện tại: Hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
- - Về năng lực trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm tội đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự.
Kết luận giám định số 6379/C09B ngày 21/12/2020 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C6, kết luận:
- - 01 (một) viên đạn, đít đạn ký hiệu PAK 9mm YAS GLD và 02 (hai) vỏ đạn đã bắn đít đạn ký hiệu OZK 9mm.P.A. gửi giám định là đạn cao su và vỏ đạn đã bắn của loại đạn công cụ hỗ trợ cỡ (9 x 22)mm và không phải vũ khí quân dụng. Loại đạn này sử dụng để bắn cho một số loại súng công cụ hỗ trợ cỡ 9mm.
Kết luận giám định số 2102/C09B ngày 06/4/2021 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C6, kết luận:
- - 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, ghi hiệu STALKER 917-D9, số hiệu 0619-00189 gửi giám định là súng công cụ hỗ trợ cỡ 9mm, không phải vũ khí quân dụng; súng sử dụng để bắn được với các loại đạn cao su, hơi cay hoặc đạn nổ uy hiếp cỡ (9 x 22)mm. Sử dụng khẩu súng trên bắn các loại đạn cao su cỡ (9 x 22)mm, đạn nổ tới cơ thể người có thể gây thương tích.
- - 01 (một) viên đạn, đít đạn ký hiệu PAK 9mm YAS GLD là đạn cao su sử dụng để bắn được cho khẩu súng gửi giám định.
- - Dấu vết trên 02 (hai) vỏ đạn đã bắn đít đạn ký hiệu OZK 9mm.P.A. gửi giám định là do khẩu súng STALKER 917-D9, số hiệu 0619-00189, cỡ 9mm bắn tạo ra.
Kết luận giám định số 6548/C09B ngày 29/01/2021 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C6, kết luận:
- - Các dấu vết nghi máu thu tại hiện trường tại vị trí số 4 và trên khẩu trang ở vị trí số 4 là máu người. Không phân tích được kiểu gen hoàn chỉnh từ mẫu máu này do mẫu kém nên không truy nguyên được cá thể.
- - Dấu vết nghỉ máu thu giữ tại hiện trường tại vị trí số 8 là máu người, của một nam giới. Kiểu gen của mẫu máu này không trùng với kiểu gen của Trần Minh T4.
5
- - 03 (ba) mãnh nghi xương thu tại hiện trường tại vị trí số 5 là xương người. Không phân tích được kiểu gen hoàn chỉnh từ mẫu xương này do mẫu kém nên không truy nguyên được cá thể.
Tại Cáo trạng số 70/CT-VKSTS-HS ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra bị cáo chỉ khai nhận hành vi gây thương tích cho Trần Hoàng T5, còn thương tích của Trần Minh T4 bị cáo không gây ra.
Tại phiên tòa bị cáo vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra.
Bị hại Trần Minh T4 trình bày T4 bị T dùng dao tự chế chém trúng trán gây thương tích như nội dung vụ án đã nêu. Còn các thương tích khác T4 không rõ do ai gây ra, nhưng xác định do nhóm của T gây nên. Triết yêu cầu xử lý T theo quy định pháp luật và không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Bị hại Trần Hoàng T5 khai: T5 không nhìn thấy ai gây ra các thương tích cho T5 và T4, nhưng do nhóm T gây nên. Khi bị nhóm T cầm dao tự chế, mã tấu đuổi phía sau thì T5 thấy T, H, T7 chạy trước, còn những người khác không biết. T5 yêu cầu xử lý nhóm T theo quy định pháp luật và không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Những người làm chứng Phan Xuân T11, Trịnh Văn N3 khai: Thấy T cầm dao tự chế chém T4 gây thương tích như nội dung vụ án. Còn thương tích của T5 không rõ ai gây ra.
Người làm chứng Chung Minh C4 khai hung khí đánh nhau là do T chuẩn bị.
Người làm chứng Lê Đức H khai: H không thấy ai gây thương tích cho T5, T4. Còn thương tích của H là do T5 sử dụng cây kiếm nhật chém gây ra. H không yêu cầu xử lý T5 và không yêu cầu bồi thường.
Những người làm chứng Quách Văn L, Lê Tuấn C3, Lê Thanh N khai T là người điện thoại cho N lấy bao đồ nhưng không biết dao tự chế, mã tấu. Còn không biết T kêu lấy bao tự chế, mã tấu để đánh nhau, nghĩ đi cất giấu. Còn ai gây thương tích cho T5, T4 không biết.
Trần Văn P1 khai: T4 bị nhóm T cầm dao tự chế đuổi theo sau nên T4 bỏ chạy bị vấp ngã, khi đứng lên bị T dùng dao tự chế chém Triết khoảng 02 đến 03 nhát làm Triết té xuống đường. Cùng lúc T5 cũng bị người khác chém gây thương tích.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52,
6
Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 05 năm đến 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp Bản án số 53/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 và Bản án số 57/2023/HS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, buộc bị cáo chấp hành chung cho 3 bản án là từ 10 năm đến 12 năm tù. Về hình phạt bổ sung không. Về trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu nên không đề cập xem xét. Về xử lý vật chứng đã được xử lý xong.
Bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến bào chữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại Trần Hoàng T5 và người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra, người bị hại, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo chỉ thừa nhận hành vi gây thương tích cho Trần Hoàng T5, còn thương tích của Trần Minh T4 bị cáo không gây ra. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị hại T4 và những người làm chứng như Phan Xuân T11, Trịnh Văn N3, Trần Văn P1 xác định T là người dùng dao chém T4 gây thương tích. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận giữa bị cáo và Phan Xuân T11 không có mâu thuẫn với nhau. Khi sự việc xảy ra, chính Tương trực tiếp nhìn thấy bị cáo khom người xuống nhặt dao chém trúng vào người của bị hại T4. Mặt khác, bị cáo T, bị hại T4 và T11 cùng xác định khi hai nhóm đối đầu gặp nhau chỉ có bị cáo, bị hại và T5 còn những người khác tham gia trong vụ án thì ở cách xa xung quanh, sau khi T5 và T4 bị thương tích thì mọi người mới đưa bị hại đi bệnh viện; ngoài ra hung khí mà bị cáo T và các bị cáo khác tham gia trong vụ án là do bị cáo T cung cấp. Do vậy có căn cứ kết luận: Ngày 05/12/2020, vì duyên cớ nhỏ nhặt Nguyễn Văn T đã dùng dao tự chế bằng kim loại chém gây thương tích cho Trần Minh T4 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 48%, Trần Hoàng T5 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.
7
Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và và an toàn xã hội làm cho quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội pham, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Nguyễn Văn T khi phạm tội là người có nhân thân xấu, có nhiều tiền án, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích của tội phạm là dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho nhiều bị hại mặt dù giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì với nhau, thể hiện tính xem thường pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã có tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù bị cáo không thừa nhận hành vi gây thương tích cho Trần Minh T4, tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T cũng đã khai nhận hành vi gây thương tích cho T5, nên cũng xem bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi gây thương tích cho T5, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, hậu quả do tội phạm gây ra là rất nghiêm trọng; bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ và 01 tình tiết tăng nặng. Do đó cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ mà tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại bản án số 53/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” và 01 (một) năm tù về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, tại bản án số 57/2023/HS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Khi quyết định hình phạt của bản án này cần áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt các bản án nêu trên.
[5] Khẩu súng mà Nguyễn Ngọc T10 sử dụng đánh nhau là của Phan Xuân T11 tàng trữ là súng công cụ hỗ trợ, khẩu súng đồ chơi nguy hiểm, không phải là vũ khí quân dụng. Thạch, T11 chưa bị xử lý về hành vi sử dụng công cụ hỗ trợ và chưa gây thương tích cho ai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T
8
không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T11, T10 về hành vi này là có căn cứ.
Đối với Lê Đức H khai bị T5 dùng cây kiếm nhật chém gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%. Do thương tích nhẹ, H không yêu cầu xử lý hình sự, không yêu cầu bồi thường nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét, giải quyết.
Đối với Chung Minh C4, Lê Đức H, Nguyễn Nhựt T7, Quách Văn L, A B, Phạm Cao Đ, Võ Quốc H4, Nguyễn Tú A1, Phạm Phước L1, Võ Thanh S2, Dương Hoài S3, Bùi Quốc Q, Nguyễn Minh T13, Trần Hoàng T5, Trần Minh T4, Nguyễn Ngọc T10, Phan Xuân T11, Trần Văn P, Nguyễn Văn T15, Trịnh Văn N3 và Đặng Anh T16, Ngô Văn C1 đã bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn đưa ra xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” vào các ngày 25, 26/11/2021 và 02/3/2022 và tuyên xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Đối với Lê Thanh N, Lê Tuấn C3 lấy dao bao tự chế cho Nguyễn Văn T nhưng không biết để đánh nhau và không tham gia đánh nhau nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xem xét xử lý là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Ngọc C2 (T), Ngô Văn C1 (C), Đỗ Văn L2 (C1), B1 chưa xác định họ tên, địa chỉ hiện chưa mời làm việc được, do đó tiếp tục xác minh xử lý sau.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (Cu Ba T1) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm tù.
Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tổng hợp hình phạt bản án số 53/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” và 01 (một) năm tù về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, bản án số 57/2023/HS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T (Cu Ba T1) chấp hành hình phạt chung của ba bản án là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ
9
ngày 18 tháng 5 năm 2023 (có khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2020 đến ngày 08/10/2020).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T (Cu Ba T1) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Th phạm tội Cố ý gây thương tích
