Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày 17/4//2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Kiên Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Huy Khoa.
  2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đức D, sinh năm 1992 tại Quảng Ninh; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1959; có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1995 và có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án: Bản án hình sự số 62/2016/HSST ngày 09/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Đức D 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách 05 năm. Đến ngày 09/9/2021, D mới chấp hành xong thời gian thử thách của người được hưởng án treo theo Giấy chứng nhận số 16/GCN ngày 10/9/2021 của Công an huyện Đ. Đến ngày 24/11/2021, D đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 08/01/2024 đến ngày 11/01/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt tại phiên tòa).
  2. Đào Mạnh T, sinh năm 1991 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Duy T1, sinh năm 1966 và bà Đặng Thị B, sinh năm 1966; có vợ là Trần Thị T2, sinh năm 1998 và có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tháng 3/2010, tham gia nghĩa vụ quân sự, đến tháng 01/2012 được xuất ngũ; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Đỗ Văn Q, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (có mặt tại phiên tòa).
  • Anh Nguyễn Chính K sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  • Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  • Anh Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  • Anh Nguyễn Thái B1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  • Anh Nguyễn Đình Q1, sinh năm 1987; nơi cư trú : Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  • Anh Đỗ Quang L, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  • Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (có mặt tại phiên tòa).
  • Anh Nguyễn Đức T4, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức D và Đào Mạnh T là bạn, đã rủ nhau cho vay lãi nặng. Thông qua nguồn tin trinh sát, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đ triệu tập T, D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến làm việc, xác định được D và T là lao động tự do, không đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực cho vay tín dụng. Lợi dụng nhu cầu của người dân cần vay vốn làm ăn, khi những người cùng xã hoặc quen biết đến nhà D và T đặt vấn đề hỏi vay tiền, hai bên thống nhất mức lãi suất, giữa D và T thực hiện hành vi hoàn toàn độc lập, tùy vào từng người vay để thỏa thuận mức lãi suất, không giới hạn thời hạn vay, việc thỏa thuận đó đều bằng miệng, không cầm cố tài sản của những người vay. Mức lãi suất theo thỏa thuận từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng/01 ngày/1.000.000 đồng, tương ứng với 109,5% đến 182,5%/năm, gấp từ 5,475 đến 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự là 20%/năm; ngày trả lãi trùng vào ngày vay của tháng sau, tháng thừa bù tháng thiếu, tính 30 ngày theo tháng. Sau đó, D và T đưa tiền mặt cho người vay tiền, còn tiền lãi trả theo tháng bằng hình thức đưa tiền mặt trực tiếp hoặc chuyển vào số tài khoản 618029999 của Ngân hàng V của D; số tài khoản 1911239999 của Ngân hàng TMCP K1 của T.

1. Đối với Nguyễn Đức D: Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2021 đến tháng 11/2023, D đã cho 06 người dân ở xã H và 01 người dân ở xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vay tổng số tiền 140.000.000 đồng, cụ thể từng người vay như sau:

+ Người thứ nhất: Anh Đỗ Văn Q, trú tại thôn H, xã H: Ngày 28/10/2022, D cho anh Q vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 1.500.000 đồng/1 tháng, tương đương 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Những lần anh quảng trả lãi trực tiếp tại nhà D, gồm: ngày 28/11/2022; 28/12/2022 và 28/02/2023; những lần trả lãi thông qua tài khoản vào các ngày 30/01/2023, 28/3/2023 và 28/4/2023, anh Q sử dụng số tài khoản 1033041161 của Ngân hàng V1 của anh chuyển tiền vào số tài khoản ngân hàng do D cung cấp. Đến ngày 28/4/2023, anh Q đã thanh toán xong cho D 10.000.000 đồng tiền gốc và chấm dứt khoản vay. Như vậy, Trong khoảng thời gian 182 ngày từ ngày 28/10/2022 đến ngày 28/4/2023, anh Q đã trả cho D số tiền lãi tổng cộng là 9.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà D được phép thu đối với khoản vay trên là (10.000.000 đồng × 20%/365 ngày) × 182 ngày = 997.260 đồng. Số tiền D thu lợi bất chính từ việc cho anh Q vay tiền bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 9.000.000 đồng – 997.260 đồng = 8.002.740 đồng.

Đến Ngày 09/5/2023, D tiếp tục cho anh Q vay 5.000.000 đồng với lãi suất 750.000 đồng/1 tháng tương đương 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Các lần anh Q trả lãi trực tiếp vào các ngày 09/7/2023, 09/8/2023 và 09/9/2023; lần trả lãi bằng hình thức chuyển khoản vào ngày 09/6/2023 là 750.000 đồng và 1.250.000 đồng để nhờ D rút hộ tiền mặt. Đến ngày 09/9/2023, anh Q đã thanh toán xong cho D 5.000.000 đồng tiền gốc và chấm dứt khoản vay. Trong khoảng thời gian 123 ngày từ ngày 09/5/2023 đến ngày 09/9/2023, anh Q đã trả cho D số tiền lãi tổng cộng là 3.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà D được phép thu đối với khoản vay trên là (5.000.000 đồng × 20%/365 ngày) × 123 ngày = 336.986 đồng. Số tiền D thu lợi bất chính từ việc cho anh Q vay tiền bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 3.000.000 đồng – 336.986 đồng = 2.663.014 đồng.

+ Người thứ hai: Anh Nguyễn Chính K, trú tại thôn H, xã H: Ngày 30/7/2022, D cho anh K vay 30.000.000 đồng với lãi suất 4.000.000 đồng/1 tháng, tương đương 4.444 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Anh K đã thanh toán trực tiếp tiền lãi tại nhà D vào các ngày 30/8/2022, 30/9/2022, 30/10/2022, 30/11/2022, 30/12/2022 và 30/01/2023. Cùng ngày 30/01/2023, do không còn khả năng trả tiền lãi nên anh K đã xin chốt lãi và trả tiền gốc. D đồng ý. Trong khoảng thời gian 184 ngày từ ngày 30/7/2022 đến ngày 30/01/2023, anh K đã trả cho D số tiền lãi tổng cộng là 24.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà D được phép thu đối với khoản vay trên là (30.000.000 đồng × 20%/365 ngày) × 184 ngày = 3.024.658 đồng. Số tiền D thu lợi bất chính từ việc cho anh K vay tiền bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 24.000.000 đồng – 3.024.658 đồng = 20.975.342 đồng. Đến nay, anh K đã trả cho D được 18.000.000 đồng tiền gốc, còn 12.000.000 đồng tiền gốc chưa trả.

+ Người thứ ba: Anh Nguyễn Đình Q1, trú tại thôn H, xã H: Ngày 20/3/2022, D cho anh Q1 vay 20.000.000 đồng với lãi suất 2.400.000 đồng/1 tháng tương đương 4.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. 05 lần anh Q1 trực tiếp trả lãi cho D theo thỏa thuận vào các ngày 20/4/2022, 20/5/2022, 20/6/2022, 20/7/2022, 20/8/2022. Sau đó, do không có khả năng trả tiền lãi nên anh Q1 đã nợ lại tiền lãi 04 tháng, gồm tháng 09, 10, 11, 12/2022. Đến ngày 08/12/2022, anh Q1 đã đến gặp D để xin chốt nợ lãi và trả tiền gốc. D đồng ý. Theo thỏa thuận, trong khoảng thời gian 263 ngày từ ngày 20/3/2022 đến ngày 08/12/2022, anh Q1 phải trả cho D số tiền lãi tổng cộng là 21.600.000 đồng nhưng thực tế anh Q1 mới trả cho D tổng cộng 12.000.000 đồng tiền lãi của 05 tháng, nợ lại 9.600.000 đồng tiền lãi của 04 tháng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà D được phép thu đối với khoản vay trên là (20.000.000 đồng × 20%/365 ngày) × 263 ngày = 2.882.192 đồng. Số tiền D thu lợi bất chính từ việc cho anh Q1 vay tiền bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 21.600.000 đồng – 2.882.192 đồng = 18.717.808 đồng. Đến nay, anh Q1 đã trả cho D 19.000.000 đồng tiền gốc qua nhiều lần trả, do không ghi chép nên không nhớ cụ thể thời gian, chỉ nợ lại 1.000.000 tiền gốc và tiền nợ lãi của 04 tháng chưa trả.

+ Người thứ tư: Chị Nguyễn Thị A, trú tại thôn H, xã H: Ngày 24/11/2021, D cho chị A vay 20.000.000 đồng với lãi suất 3.000.000 đồng/1 tháng tương đương 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Vào các ngày 24 hàng tháng, chị A đều trực tiếp sang nhà D trả lãi theo thỏa thuận. Đến ngày 24/11/2022, do không còn khả năng trả tiền lãi nên chị A đã đến gặp D để chốt lãi tháng 11 và chỉ phải trả tiền gốc. D đồng ý. Theo quy định, trong khoảng thời gian 365 ngày từ ngày 24/11/2021 đến ngày 24/11/2022, chị A phải trả cho D số tiền lãi tổng cộng là 36.000.000 đồng, nhưng thực tế số tiền lãi Dưỡng thu được 33.000.000 đồng tiền lãi và nợ lại 3.000.000 đồng tiền lãi của tháng 11/2022. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà D được phép thu đối với khoản vay trên là (20.000.000 đồng × 20%/365 ngày) × 365 ngày = 4.000.000 đồng. Số tiền D thu lợi bất chính từ việc cho chị A vay tiền bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 36.000.000 đồng – 4.000.000 đồng = 32.000.000 đồng. Đến ngày 18/01/2023, chị A đã đến nhà D trực tiếp trả cho D số tiền gốc là 20.000.000 đồng. Hiện nay, chị A chỉ còn nợ lại Dưỡng 3.000.000 tiền lãi tháng 11/2022 chưa trả.

+ Người thứ năm: Anh Đỗ Quang L, trú tại thôn H, xã H: Ngày 15/12/2022, D cho anh L vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 1.500.000 đồng/1 tháng tương đương 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Tiền lãi hàng tháng, anh L trả bằng hình thức chuyển khoản thông qua tài khoản của anh L tại Ngân hàng B2 vào tài khoản của D 07 lần, gồm: ngày 04/01/2023, ngày 05/02/2023, ngày 05/3/2023, ngày 04/4/2023, ngày 11/5/2023, ngày 11/7/2023 và ngày 09/8/2023 với tổng số tiền 10.500.000 đồng. Trả lãi bằng hình tức tiền mặt tại nhà D vào ngày 15/6/2023 là 1.500.000 đồng. Đến ngày 24/8/2023, do không còn khả năng trả tiền lãi nên anh L đã đến gặp D để xin chốt lãi và trả tiền gốc. D đồng ý. Trong khoảng thời gian 243 ngày từ ngày 15/12/2022 đến ngày 24/8/2023, anh L đã trả cho D số tiền lãi tổng cộng là 12.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà D được phép thu đối với khoản vay trên là (10.000.000 đồng × 20%/365 ngày) × 252 ngày = 1.380.822 đồng. Số tiền D thu lợi bất chính từ việc cho anh L vay tiền bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 12.000.000 đồng – 1.380.822 đồng = 10.619.178 đồng. Đến tháng 10/2023, anh L đã hoàn trả xong cho D số tiền gốc là 10.000.000 đồng và kết thúc khoản vay.

+ Người thứ sáu: Anh Nguyễn Đức T4, trú tại thôn V, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình: Ngày 20/6/2022, D cho anh T4 vay 30.000.000 đồng với lãi suất 4.500.000 đồng/1 tháng tương đương 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Anh T5 sử dụng tài khoản cá nhân của anh có số tài khoản 0401001375729 - Ngân hàng V1 để trả tiền lãi 03 lần vào tài khoản D thường sử dụng nhận tiền lãi, gồm: ngày 20/7/2022, 24/8/2022, 20/9/2022; lần trả lãi trực tiếp bằng tiền mặt tại nhà D vào ngày 20/10/2022, đồng thời chốt nợ, xin trả gốc sau. D đồng ý. Như vậy, trong khoảng thời gian 122 ngày từ ngày 20/6/2022 đến ngày 20/10/2022, anh T5 đã trả cho D số tiền lãi tổng cộng là 18.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà D được phép thu đối với khoản vay trên là (30.000.000 đồng × 20%/365 ngày) × 122 ngày = 2.005.479 đồng. Số tiền D thu lợi bất chính từ việc cho anh T5 vay tiền bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 18.000.000 đồng – 2.005.479 đồng = 15.994.521 đồng. Đến ngày 10/11/2023, anh T5 đã hoàn trả xong cho D số tiền gốc là 30.000.000 đồng và kết thúc khoản vay.

+ Người thứ bảy: Anh Nguyễn Thanh T3, trú tại thôn H, xã H: Ngày 15/12/2022, D cho anh T3 vay 15.000.000 đồng với lãi suất 2.250.000 đồng/1 tháng tương đương 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Anh T3 trả lãi trực tiếp tại nhà D 02 lần vào các ngày: 15/01/2023 và 15/02/2023. Sau đó, do không có khả năng trả tiền lãi nên anh T3 đã xin nợ lại tiền lãi tháng 03 và tháng 04/2023. Ngày 15/4/2023, anh T3 nhờ chị Nguyễn Thị H2 là vợ của anh T3, sử dụng số tài khoản 02110000175189 của Ngân hàng V1 chuyển khoản trả cho D số tiền gốc là 15.000.000 đồng chấm dứt khoản vay. Theo quy định, trong khoảng thời gian 121 ngày từ ngày 15/12/2022 đến ngày 15/4/2023, anh T3 phải trả cho D số tiền lãi tổng cộng là 9.000.000 đồng nhưng thực tế anh T3 mới trả cho D tổng cộng 4.500.000 đồng tiền lãi của 02 tháng, còn nợ lại tiền lãi của 02 tháng là 4.500.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà D được phép thu đối với khoản vay trên là (15.000.000 đồng × 20%/365 ngày) × 121 ngày = 994.521 đồng. Số tiền D thu lợi bất chính từ việc cho anh T3 vay tiền bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 9.000.000 đồng – 994.521 đồng = 8.005.479 đồng. Hiện tại, anh T3 vẫn còn nợ D tiền lãi 02 tháng.

Tổng số tiền D thu lời bất chính bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 116.978.082 đồng (Một trăm mười sáu triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng).

2. Đối với Đào Mạnh T: Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 01/2024, T đã cho 03 người đều trú tại thôn H, xã H, huyện Đ vay tổng số tiền 45.000.000 đồng.

+ Người thứ nhất: Anh Nguyễn Thanh T3: Ngày 17/6/2023, T cho anh T3 vay 10.000.000 đồng với lãi suất 1.500.000 đồng/1 tháng tương đương 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Anh T3 đã 04 lần thanh toán tiền lãi cho D bằng tiền mặt vào các ngày: 17/7/2023, 17/8/2023, 17/9/2023 và 17/10/2023. Ngày 08/12/2023, anh T3 đến gặp T để xin chốt nợ lãi tháng 11 và tháng 12/2023 và trả tiền gốc, T đồng ý. Sau đó, anh T3 nhờ chị Nguyễn Thị H2 là vợ của anh T3, sử dụng số tài khoản 02110000175189 của Ngân hàng V1 chuyển khoản trả cho T số tiền gốc là 8.000.000 đồng. Đến ngày 31/12/2023, anh T3 đã trả nốt cho T số tiền gốc là 2.000.000 đồng bằng tiền mặt và kết thúc khoản vay. Theo quy định, trong khoảng thời gian 174 ngày từ ngày 17/6/2023 đến ngày 08/12/2023, anh T3 phải trả cho T số tiền lãi tổng cộng là 9.000.000 đồng nhưng thực tế anh T3 mới trả cho T tổng cộng 6.000.000 đồng tiền lãi của 04 tháng, nợ lại 3.000.000 đồng tiền lãi của 02 tháng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà T được phép thu đối với khoản vay trên là (10.000.000 đồng × 20%/365 ngày) × 174 ngày = 953.425 đồng. Số tiền T thu lợi bất chính từ việc cho anh T3 vay tiền bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 9.000.000 đồng – 953.425 đồng = 8.046.575 đồng. Hiện tại, anh T3 chỉ còn nợ T số tiền lãi 02 tháng là 3.000.000 đồng.

+ Người thứ hai: Anh Phạm Văn H1: Ngày 08/10/2022, T cho anh H1 vay 15.000.000 đồng với lãi suất 2.250.000 đồng/1 tháng tương đương 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, vào ngày mồng 08 hàng tháng, anh H1 đều đến nhà T để trả trực tiếp số tiền lãi là 2.250.000 đồng. Đến ngày 08/9/2023, anh H1 đã trả cho T số tiền gốc là 15.000.000 đồng và kết thúc khoản vay. Trong khoảng thời gian 335 ngày từ ngày 08/10/2022 đến ngày 08/9/2023, anh H1 đã trả cho T số tiền lãi tổng cộng là 24.750.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà T được phép thu đối với khoản vay trên là (15.000.000 đồng × 20%/365 ngày) × 335 ngày = 2.257.534 đồng. Số tiền T thu lợi bất chính từ việc cho anh H1 vay tiền bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 24.750.000 đồng – 2.753.425 đồng = 21.996.575 đồng.

+ Người thứ ba: Anh Nguyễn Thái B1: Ngày 15/6/2023, T cho anh B1 vay 20.000.000 đồng với lãi suất 1.800.000 đồng/1 tháng tương đương 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Anh B1 đã trả lãi trực tiếp cho T 03 lần vào các ngày 15/7/2023, 15/8/2023 và 15/9/2023. Sau đó, do không có điều kiện trả tiền lãi nên ngày 07/01/2024, anh B1 chốt nợ với T và xin nợ lại tiền lãi của các tháng 10, 11, 12/2023. T đồng ý. Theo quy định, trong khoảng thời gian 206 ngày từ ngày 15/6/2023 đến ngày 07/01/2024, anh B1 phải trả cho T số tiền lãi là 12.360.000 đồng nhưng thực tế anh B1 mới trả được T 5.400.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà T được phép thu đối với khoản vay trên là (20.000.000 đồng × 20%/365 ngày) × 206 ngày = 2.257.534 đồng. Số tiền T thu lợi bất chính từ việc cho anh B1 vay tiền bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 12.360.000 đồng – 2.257.534 đồng = 10.102.466 đồng.

Tổng số tiền T thu lời bất chính bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự trong vụ án này là 40.145.616 đồng (Bốn mươi triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn sáu trăm mười sáu đồng).

- Tại phiên tòa:

+ Các bị cáo thành thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố. Các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

+ Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm anh Đỗ Văn Q, chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Đức T4 đều khai: Đã vay tiền của D và phải trả lãi suất cao cho D như lời khai của D và như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Anh Đỗ Văn Q không yêu cầu D phải trả lại cho anh số tiền lãi mà D đã thu vượt quá mức quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Đức T4 yêu cầu D phải trả lại số tiền lãi mà D đã thu của chị A và anh T4 vượt quá mức quy định của pháp luật.

- Tại Cơ quan điều tra:

+ Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay tiền của D, gồm anh Nguyễn Chính K, anh Nguyễn Đình Q1, anh Đỗ Quang L và anh Nguyễn Thanh T3 đều thể hiện: Các anh đã vay tiền của D và phải trả lãi suất cao cho D như lời khai của D. Các anh không yêu cầu D phải trả lại cho các anh số tiền lãi mà D đã thu vượt quá mức quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Chính K xác định còn nợ lại D số tiền gốc 12.000.000 đồng. Anh Nguyễn Đình Q1 xác định còn nợ lại D số tiền gốc 1.000.000 đồng.

+ Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay tiền của T, gồm anh Nguyễn Thanh T3, anh Phạm Văn H1 và anh Nguyễn Thái B1 đều thể hiện: Các anh đã vay tiền của T và phải trả lãi suất cao cho T như lời khai của T. Các anh không yêu cầu T phải trả lại cho các anh số tiền lãi mà T đã thu vượt quá mức quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 29/CT-VKSĐH ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân huyện Đ truy tố các bị cáo:

Nguyễn Đức D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự và Đào Mạnh T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật như trên và Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 3 Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  • Phạt Nguyễn Đức D từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, được trừ 03 ngày bị tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  • Phạt bổ sung Nguyễn Đức D từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  • Phạt tiền Đào Mạnh T từ 55.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
  • - Về xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm:
  • Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đề nghị:
  • + Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền các bị cáo sử dụng vào việc cho vay lãi nặng mà người vay đã trả để tịch thu sung Ngân sách Nhà nước;
  • + Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo qui định của Bộ luật dân sự mà người vay đã trả để tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • + Buộc anh Nguyễn Chính K và anh Nguyễn Đình Q1 nộp lại số tiền gốc còn nợ bị cáo D để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • + Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của những người vay tiền của các bị cáo, không yêu cầu các bị cáo phải trả lại tiền lãi mà các bị cáo đã thu vượt quá mức quy định của pháp luật.
  • + Buộc bị cáo D phải trả lại chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Đức T4 số tiền lãi mà D đã thu của chị A và anh T4 vượt quá mức quy định của pháp luật.
  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tranh luận:

  • - Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
  • - Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc vay tiền của Nguyễn Đức D, gồm: Anh Đỗ Văn Q, anh Nguyễn Chính K, anh Nguyễn Thanh T3, anh Nguyễn Đình Q1, chị Nguyễn Thị A, anh Đỗ Quang L và anh Nguyễn Đức T4; Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc vay tiền của Đào Mạnh T, gồm: Anh Nguyễn Thanh T3, anh Phạm Văn H1 và anh Nguyễn Thái B1; Các tài liệu được sao kê tại các Ngân hàng có liên quan đến giao dịch cho vay lãi nặng và các Biên bản giao, nhận gồm: Sổ phụ kiêm báo nợ, báo có từ ngày 01/5/2022 đến ngày 08/01/2024 của Ngân hàng V, số TK 618029999 mang tên Nguyễn Đức D; Sao kê tài khoản có số tài khoản 1033041161 của Ngân hàng V1 từ ngày 01/10/2022 đến 30/9/2023 của anh Đỗ Văn Q; Sao kê tài khoản tiền gửi khách hàng của số tài khoản 47110001350330(cũ), số hiện tại là 4711350330 của Ngân hàng B2 của anh Đỗ Quang L; Sao kê tài khoản số 0401001375729 của Ngân hàng V1 từ ngày 01/6/2022 đến 31/10/2022 của anh Nguyễn Đức T4; Sổ phụ kiêm báo nợ/có số tài khoản 1911239999 của Ngân hàng TMCP K1 (K1) từ ngày 01/6/2022 đến ngày 08/01/2024 của Đào Mạnh T; Sao kê tài khoản số 0211000175189 của Ngân hàng V1 ngày 15/04/2023 và ngày 08/12/2023 của chị Nguyễn Thị H2 (vợ anh Nguyễn Thanh T3); cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sơ kết luận:

- Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2021 đến tháng 11/2023, Nguyễn Đức D đã 08 lần cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với 07 người, trong đó 06 người trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, gồm: Anh Đỗ Văn Q, anh Nguyễn Chính K, anh Nguyễn Thanh T3, anh Nguyễn Đình Q1, chị Nguyễn Thị A và anh Đỗ Quang L và 01 người trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình là anh Nguyễn Đức T4 với tổng số tiền gốc là 140.000.000 đồng, mức lãi suất nhỏ nhất từ 4.000 đồng, cao nhất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tương đương 146%/năm đến 182,5%/năm vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (20%) từ 7,3 lần đến 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi xác định theo thỏa thuận là: 132.600.000 đồng, trong đó, số tiền lãi được thu theo quy định của pháp luật là 15.621.918 đồng; thu lời bất chính đến thời điểm tội phạm bị phát hiện cần xử lý hình sự là 116.978.082 đồng. Các lần cho vay, chỉ có 01 lần thu lợi bất chính đối với khoản vay ngày 24/11/2021 là trên 30.000.000 đồng.

- Trong khoảng thời gian từ ngày 08/10/2022 đến ngày 07/01/2024, Đào Mạnh T đã 03 lần cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với 03 người ở thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình gồm: Anh Nguyễn Thanh T3, anh Phạm Văn H1 và anh Nguyễn Thái B1 với tổng số tiền gốc là 45.000.000 đồng, mức lãi suất nhỏ nhất từ 3.000 đồng, cao nhất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tương đương 109,5%/năm đến 182,5%/năm vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (20%) từ 5,475 lần đến 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi xác định theo thỏa thuận là 46.110.000 đồng, trong đó, số tiền lãi được thu theo quy định của pháp luật là 6.090.411 đồng; thu lời bất chính đến thời điểm tội phạm bị phát hiện cần xử lý hình sự là 40.145.616 đồng. Các lần thu lời bất chính đều dưới 30.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đức D và Đào Mạnh T vi phạm Điều 6 và khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao nên đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; Đối với Nguyễn Đức D tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Đối với Đào Mạnh T tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Điều 6. Xác định số tiền thu lợi bất chính để xử lý trách nhiệm hình sự

  1. Trường hợp cho vay lãi nặng đã hết thời hạn vay theo thỏa thuận thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay phải trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự trong cả kỳ hạn vay.
  2. Trường hợp cho vay lãi nặng chưa hết thời hạn vay theo thỏa thuận mà bị phát hiện thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay phải trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự tính đến thời điểm cơ quan có thẩm quyền phát hiện và ngăn chặn.

Trường hợp bên vay đã trả tiền lãi trước hạn và các khoản thu trái pháp luật khác thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay thực tế đã trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Điều 7. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể

  1. ...
  2. Trường hợp người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng mà các lần thu lợi bất chính đều dưới 30.000.000 đồng nhưng tổng số tiền thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên và các hành vi này chưa lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần cho vay lãi nặng, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
  2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng. Các bị cáo chỉ vì động cơ, mục đích lợi ích cá nhân, bất chấp các quy định của pháp luật, lợi dụng những người gặp khó khăn về kinh tế, đã cho vay với lãi suất cao, nhằm thu lợi bất chính. Hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nội bộ quần chúng nhân dân. Hậu quả mà các bị cáo gây ra phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật.

[4]. Khi quyết định hình phạt, xét thấy:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo D bị áp dụng tình tiết tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự;
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi tội phạm bị phát hiện, D đến Công an huyện Đ đầu thú. Đồng thời tự thú thêm những trường hợp cho vay chưa bị phát hiện. Quá trình điều tra thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo và đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Đối với bị cáo D cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện. Đối với bị cáo T chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo D và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

[5]. Về xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm:

Căn cứ Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thì: Vật, tiền liên quan đến việc phạm tội được xử lý như sau:

Đối với bị cáo D:

  • - Số tiền bị cáo sử dụng vào việc cho vay lãi nặng mà người vay đã trả gồm: Anh Đỗ Văn Q 15.000.000 đồng, anh Nguyễn Chính K 18.000.000 đồng, anh Nguyễn Đình Q1 19.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị A 20.000.000 đồng, anh Đỗ Quang L 10.000.000 đồng, anh Nguyễn Đức T4 30.000.000 đồng, anh Nguyễn Thanh T3 15.000.000 đồng. Tổng = 127.000.000 đồng buộc bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo qui định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo thu được từ người vay gồm: Anh Đỗ Văn Q 1.334.246 đồng, anh Nguyễn Chính K 3.024.658 đồng, anh Nguyễn Đình Q1 1.676.712 đồng, chị Nguyễn Thị A 3.660.274 đồng, anh Đỗ Quang L 1.380.822 đồng, anh Nguyễn Đức T4 2.005.479 đồng và anh Nguyễn Thanh T3 509.589 đồng. Tổng là 13.591.000 đồng (số làm tròn) cần buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc những người vay nộp lại số tiền gốc còn nợ bị cáo để tịch thu sung ngân sách Nhà nước (gồm: anh Nguyễn Chính K phải nộp lại 12.000.000 đồng, anh Nguyễn Đình Q1 phải nộp lại 1.000.000 đồng).
  • - Số tiền lãi bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội (cho vay lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự), bị cáo phải trả cho người vay yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật gồm: Chị Nguyễn Thị A 29.339.000 đồng (số làm tròn); anh Nguyễn Đức T4 15.994.000 đồng (số làm tròn).
  • - Số tiền lãi bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội (cho vay lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự), những người vay anh Đỗ Văn Q, anh Nguyễn Chính K, anh Nguyễn Thanh T3, anh Nguyễn Đình Q1 và anh Đỗ Quang L không yêu cầu bị cáo phải trả lại. Đây là sự tự nguyện của những người vay nên cần chấp nhận.

Đối với bị cáo T:

  • - Số tiền bị cáo sử dụng vào việc cho vay lãi nặng mà người vay đã trả gồm: Anh Nguyễn Thanh T3 10.000.000 đồng, anh Phạm Văn H1 20.000.000 đồng và anh Nguyễn Thái B1 15.000.000 đồng. Tổng = 45.000.000 đồng buộc bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo qui định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo thu được từ người vay gồm: Anh Nguyễn Thanh T3 668.493 đồng, anh Phạm Văn H1 2.753.425 đồng và anh Nguyễn Thái B1 1.008.219 đồng. Tổng là 4.430.000 đồng (số làm tròn) cần buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • - Số tiền lãi bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội (cho vay lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự), những người vay anh Nguyễn Thanh T3, anh Phạm Văn H1 và anh Nguyễn Thái B1 không yêu cầu bị cáo phải trả lại. Đây là sự tự nguyện của những người vay nên cần chấp nhận.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D và bị cáo Đào Mạnh T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

  • - Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 3 Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Nguyễn Đức D 06 (sáu) tháng tù, được trừ 03 ngày tạm giữ, còn phải thi hành 05 tháng 27 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  • Phạt bổ sung bị cáo D 10.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  • Phạt tiền bị cáo Đào Mạnh T 55.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 01/2021/NQ- HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao:

  • - Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải nộp lại số tiền bị cáo dùng cho vay lãi nặng mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trả là 127.000.000 đồng (một trăm hai mươi bảy triệu đồng) để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải nộp lại số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo thu được từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 13.591.000 đồng (mười ba triệu năm trăm chín mươi mốt nghìn đồng) để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau đây phải nộp lại số tiền gốc vay chưa trả bị cáo Nguyễn Đức D để tịch thu sung ngân sách Nhà nước; gồm:
    • + Anh Nguyễn Chính K sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình phải nộp lại 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
    • + Anh Nguyễn Đình Q1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình phải nộp lại 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải trả lại số tiền lãi bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội (cho vay lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự), gồm:
    • + Trả chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình 29.339.000 đồng (hai mươi chín triệu ba trăm ba mươi chín nghìn đồng).
    • + Trả anh Nguyễn Đức T4, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình 15.994.000 đồng (mười lăm triệu chín trăm chín mươi tư nghìn đồng).
  • - Buộc bị cáo Đào Mạnh T phải nộp lại số tiền bị cáo dùng cho vay lãi nặng mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trả là 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng) để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Đào Mạnh T phải nộp lại số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo qui định của Bộ luật dân sự mà bị cáo thu được từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 4.430.000 đồng (bốn triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng) để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • - Ghi nhận sự tự nguyện của anh Đỗ Văn Q, anh Nguyễn Chính K, anh Nguyễn Thanh T3, anh Nguyễn Đình Q1 và anh Đỗ Quang L không yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức D phải trả lại tiền lãi mà bị cáo D đã thu vượt quá mức quy định của pháp luật.
  • - Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Thanh T3, anh Phạm Văn H1 và anh Nguyễn Thái B1 không yêu cầu bị cáo Đào Mạnh T phải trả lại tiền lãi mà bị cáo T đã thu vượt quá mức quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Bị cáo Nguyễn Đức D và Đào Mạnh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đối với người có mặt tại phiên tòa, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật đối với người vắng mặt tại phiên tòa).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNV liên quan;
  • - VKSND H.Đông Hưng;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT; Nhà tạm giữ Công an H.Đông Hưng;
  • - Chi cục THADS H.Đông Hưng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, cơ quan.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Kiên Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Đức Dưỡng và bị cáo Đào Mạnh Thắng phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger