Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN ĐỘNG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST

Ngày 27/12/2023

V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngát

2. Ông Lã Văn Minh

Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Khiết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên tòa: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 87/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Mã Thị Thanh P, sinh năm 1994. Có mặt.
  • Nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
  • Chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bị đơn: Anh Ngô Văn V, sinh năm 1993. Có mặt
  • Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Mã Thị Thanh P trình bày: Chị kết hôn với anh Ngô Văn V trên cơ sở tìm hiểu và thỏa thuận tự nguyện; đăng ký kết hôn ngày 27/5/2013 tại UBND xã Q (nay là xã Đ), huyện S, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc; mâu thuẫn phát sinh căng thẳng từ tháng 12/2019, nguyên nhân là do hai người có nhiều bất đồng về quan điểm, cách sống, anh V ăn chơi, cờ bạc dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân căng thẳng, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh V được ly hôn nhau.

    Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Ngô Hương Quỳnh A, sinh ngày 19/7/2013 và cháu Ngô Đức M, sinh ngày 21/3/2015. Hiện cả hai cháu đang ở cùng bố, các cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường. Vợ chồng ly hôn chị đồng ý để cả hai con cho anh V nuôi dưỡng.

    Về tài sản, công nợ: Chị xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Bị đơn là anh Ngô Văn V trình bày: Anh xác nhận chị P trình bày về thời gian và điều kiện kết hôn là đúng; anh cũng xác nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng nguyên nhân là do chị P ngoại tình. Tuy nhiên mâu thuẫn vợ chồng không lớn. Anh vẫn còn yêu thương chị P nên chị P xin ly hôn anh không đồng ý.

    Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 02 con chung như chị P trình bày là đúng. Nếu phải ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung, anh không yêu cầu chị P phải cấp dưỡng nuôi con.

    Về tài sản, công nợ: Anh cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  3. Con của chị P, anh V là cháu Ngô Thị Quỳnh A1 và cháu Ngô Đức M trình bày: Các cháu có nguyện vọng được ở cùng bố.
  4. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

    Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự của phiên tòa sơ thẩm.

    Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Mã Thị Thanh P được ly hôn anh Ngô Văn V; về con chung: Giao anh Ngô Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Ngô Thị Quỳnh A1 và cháu Ngô Đức M; chị P không phải cấp dưỡng nuôi con. Miễn án phí ly hôn cho chị P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Chị Mã Thị Thanh P có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn anh Ngô Văn V, có hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện S. Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sơn Động thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Mã Thị Thanh P và anh Ngô Văn V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận tiến tới hôn nhân, đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q (nay là xã Đ) ngày 27/5/2013. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh V là hợp pháp.

    Chị P và anh V đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn, cả hai đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân căng thẳng, trầm trọng, chị không thể tiếp tục chung sống cùng anh V nên có nguyện vọng được ly hôn. Mặc dù anh V mong muốn vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh V cũng không có giải pháp gì để cải thiện đời sống chung vợ chồng. Xét thấy, chị P và anh V đều đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng là phải thương yêu, chăm sóc cho nhau, chung sống cùng nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, cho chị P được ly hôn anh V theo khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

  3. [3] Về con chung: Chị P và anh V xác định có 02 con chung là cháu Ngô Hương Quỳnh A, sinh ngày 19/7/2013 và cháu Ngô Đức M, sinh ngày 21/3/2015. Khi ly hôn, chị P có nguyện vọng để anh V nuôi dưỡng cả hai con. Anh V nhất trí nhận nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cả chị P và anh V đều thống nhất để anh V nuôi dưỡng 2 con chung. Anh V có chỗ ở ổn định, có việc làm cho thu nhập, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử giao cả hai con cho anh V nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với nguyện vọng của chị P, anh V và cháu A, cháu M. Anh V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết. Chị P có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Về tài sản chung: Chị P, anh V đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

  4. [4] Về án phí: Chị Mã Thị Thanh P là thành viên hộ nghèo nên không phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  1. Về hôn nhân: Cho chị Mã Thị Thanh P được ly hôn anh Ngô Văn V.
  2. Về con chung: Giao anh Ngô Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Ngô Hương Quỳnh A, sinh ngày 19/7/2013 và cháu Ngô Đức M, sinh ngày 21/3/2015. Chị P không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Không ai được cản trở chị P quyền thăm nom con.

  3. Về án phí: Miễn án phí ly hôn cho chị Mã Thị Thanh P.

Đương sự có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án.

* Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • - VKSND huyện SĐ
  • - VKSND tỉnh BG
  • - TAND tỉnh BG
  • - UBND xã Đại Sơn
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 29/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Ph và anh V kết hôn, đo mâu thuẫn nên chị Ph khởi kiện xin ly hôn, Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi dưỡng con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger