Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2024/HNGĐ - ST

Ngày: 16-7-2024

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tấn

Bà Nguyễn Thị Lại

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Ong Văn Chúc - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án thị xã V, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/4/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/6/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị H – sinh năm 1974 (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Quang H1 - sinh năm 1975 (vắng mặt)

Đều địa chỉ: tổ dân phố N, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh H1 được tự do tìm hiều, tự nguyện đăng ký kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là phường T), đăng ký kết hôn ngày 03/3/2003. Tổ chức cưới theo phong tục tập quán ngày 19/9/1993 (âm lịch), sau khi cưới vợ chồng ở chung với bố mẹ chồng 05 năm thì ra ở riêng. Quá trình chung sống được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do chồng chị thường xuyên uống rượu, ăn nhậu đàn đúm bạn bè, từ năm 2010 đến nay thì thường xuyên ngoại tình. Khi phát sinh mâu thuẫn đã được hai bên gia đình

cũng như vợ chồng tự hòa giải để đoàn tụ nhưng không có kết quả. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh H1.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Quang Đ sinh ngày 01/11/1998 và cháu Nguyễn Quang Đ1 sinh ngày 23/8/2001. Hiện nay các con đã trường thành, cháu Đ đã lập gia đình, cháu Đ1 đã học xong Đại học. Do vậy chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công sức, công nợ, ruộng canh tác: Vợ chồng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do điều kiện công việc của chị H không thể đến Tòa án làm việc được, chị đã có lời khai trong hồ sơ nên chị đề nghị Toà án xét xử vắng mặt chị.

Bị đơn anh Nguyễn Quang H1 trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị H được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày, anh H1 xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn và không đồng ý ly hôn. Nếu chị H vẫn kiên quyết ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Quang Đ sinh ngày 01/11/1998 và Nguyễn Quang Đ1 sinh ngày 23/8/2001. Hiện các cháu đã trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất và tinh thần nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: anh và chị H không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.

Xác minh tại địa phương: Ban lãnh đạo tổ dân phố N cung cấp: anh Nguyễn Quang H1 và chị Lê Thị H là vợ chồng, chung sống với nhau tại tổ dân phố N, phường T, quá trình chung sống vợ chồng có 02 con đã trưởng thành, vợ chồng có mâu thuẫn nhưng nguyên nhân thì địa phương không nắm được vì gia đình không báo cáo và không yêu cầu hòa giải. Chị H đã không sống cùng anh H1 vài năm nay. Anh H1 thi thoảng có xẩy ra cãi nhau và xô xát với vợ khi còn sống chung. Nay chị H có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của các đương sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật, bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của pháp luật. Việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.

Về ý kiến giải quyết vụ án:

Đề nghị HĐXX Áp dụng các Điều 56; 57 Luật hôn nhân và gia đình;

Khoản 1 Điều 28; Điểm a, Khoản 1, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 BLTTDS;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Quang H1

Án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn là anh Nguyễn Quang H1 có địa chỉ: tổ dân phố N, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

[2] Về việc vắng mặt chị H, anh H1: Tại phiên toà chị H vắng mặt nhưng chị đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Quang H1 đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh H1 theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị H2 và anh H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V (nay là phường T, thị xã V), tỉnh Bắc Giang ngày 13/3/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng sống ly thân từ nhiều năm nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1. Anh H1 không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có biện pháp tích cực để hàn gắn tình cảm vợ chồng, quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh H1 không tham gia hòa giải để Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Do vậy Hội đồng xét xử thấy hôn nhân giữa anh Nguyễn Quang H1 và chị Lê Thị H đã thực sự mâu thuẫn, mẫu thuẫn giữa hai vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị H xin ly hôn anh H1 là có căn cứ cần chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Lê thị H3 và anh Nguyễn Quang H1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Quang Đ sinh ngày 01/11/1998 và cháu Nguyễn Quang Đ1 sinh ngày 23/8/2001. Hiện nay cả hai cháu đã trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất và tinh thần. Anh Nguyễn Quang H1 và chị Lê Thị H không yêu cầu giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Quang H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, chị Lê Thị H phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, cần áp dụng các Điều 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 56; 57 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Quan hệ vợ chồng: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Quang H1.

Án phí: Chị Lê Thị H phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền dự phí đã nộp 300.000đồng theo biên lai 0003405 ngày 01/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên. Chị H đã nộp đủ án phí DSST.

B kháng cáo cho đương sự vắng mặt biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Việt Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Việt Yên;
  • - UBND phường Tự Lạn (ĐKKH số 10
  • ngày 13/3/2003);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số /2024/HNGĐ - ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: /2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị H ly hôn anh Nguyễn Quang H1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger