|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày: 16/04/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Minh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quốc Dũng
2. Ông Phan Đình Nguyện
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Văn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Quang T; Sinh ngày: 09 tháng 4 năm 1987, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm H, xã N, huyện N, Nghệ An; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Thanh C, sinh năm 1964 và bà Lê Thị L, sinh năm 1965; Vợ: Tống Thị T1, sinh năm 1987 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; Bị cáo không bị tạm giữ tạm giam; Áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/02/2024 đến nay; có mặt.
Bị hại: Ông Trần Kim T2 (đã chết).
Đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Lê Thị C1, sinh năm 1969 (vợ ông T2); Trú tại: xóm B, xã N, huyện N, Nghệ An; vắng
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Tống Thị T1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Bà Lê Thị C1, sinh năm 1969; Trú tại: xóm B, xã N, huyện N, Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 31/12/2023, bị cáo Ngô Quang T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 37C - 307.24 đi từ nhà mình ở xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An trên quốc lộ A hướng xã N, huyện N đi huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Khi gần đến Km 325+500 thuộc xóm H, xã N, huyện N, bị cáo đang điều khiển xe ô tô theo làn đường bên phải sát vạch kẻ giữa đường thì phát hiện phía trước cách khoảng 10m có xe mô tô biển kiểm soát 37B1 - 588.64 do ông Trần Kim T2 (sinh năm 1961, trú tại xóm B, xã N, huyện N, Nghệ An) điều khiển đi ngang sang đường từ bên trái sang bên phải theo hướng di chuyển của mình. Lúc này bị cáo cho rằng ông T2 sẽ tiếp tục di chuyển sang đường nên không giảm tốc độ mà đánh lái cho xe di chuyển sang làn đường bên trái để tránh thì ông Trần Kim T2 dừng xe lại dẫn đến xe ô tô của bị cáo điều khiển đâm vào xe mô tô của ông T2. Hậu quả làm ông T2 tử vong, hai xe bị hư hỏng.
Tại Bản kết luận giám định số 21/KL-KTHS(DVCH) ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh N xác định:
“1. Chiều hướng di chuyển: Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn, xe ô tô biển kiểm sát 37C - 307.24 di chuyển trên đường QL15A theo hướng từ xã N, huyện N đi huyện Đ, xe mô tô mang biển kiểm soát 37B1 - 588.64 di chuyển theo hướng từ trái sang phải so với hướng di chuyển của xe ô tô biển kiểm soát 37C - 307.24.
- Không xác định được phần đường di chuyển của xe ô tô biển kiểm soát 37C - 307.24 và xe mô tô biển kiểm soát 37B1 - 588.64 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.
2. Xe ô tô biển kiểm sát 37C - 307.24 và xe mô tô mang biển kiểm soát 37B1 - 588.64 có va chạm với nhau.
- Vị trí va chạm đầu tiên:
+ Trên hiện trường: Ở phần giữa của đường Quốc Lộ 15A nhưng không xác định chính xác thuộc làn đường nào.
+ Trên xe ô tô 37C - 307.24: Ở mặt trước bên trái đầu xe.
+ Trên xe mô tô mang biển kiểm soát 37B1 - 588.64: Ở nửa phía trước bên phải xe.
3. Không xác định được tốc độ di chuyển của xe ô tô 37C - 307.24 và xe mô tô mang biển kiểm soát 37B1 - 307.24 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.”
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 10/KLGĐTT-KTHS ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh N xác định nguyên nhân tử vong
2
của ông Trần Kim T2: “Suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp do chấn thương làm gãy hở 4 xương sườn bên trái chọc thủng phổi trái và gãy hai xương cẳng chân phải.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSNĐ ngày 21 tháng 03 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đã truy tố Ngô Quang T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Quang T mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên miễn xét.
Về vật chứng: Đã được xử lý theo quy định nên miễn xét. Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Ngô Quang T có giá trị đến 24/11/2026 hiện lưu tại hồ sơ vụ án đề nghị trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Quang T đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến phiên toà nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Ngô Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện
3
trường, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 31/12/2023, tại Km 325+500 Quốc lộ A thuộc địa phận thuộc xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Ngô Quang T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 37C - 307.24 không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không đi đúng phần đường, làn đường dẫn đến va chạm giao thông với xe mô tô mang biển kiểm soát 37B1 - 588.64 do ông Trần Kim T2 điều khiển, hậu quả làm ông T2 tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản Khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ; Điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ và đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về hình phạt áp dụng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý lo lắng cho người tham gia giao thông nên cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với lỗi vô ý. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường về dân sự, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[6] Về vật chứng: Các vật chứng đã được trả cho chủ sở hữu trong quá trình điều tra đúng quy định nên Hội đồng xét xử miễn xét; Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Ngô Quang T có giá trị đến 24/11/2026 được chuyển theo hồ sơ vụ án, do Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung nên trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Quang T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, thời gian thử thách của án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16 tháng 04 năm 2024).
- Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, Tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục bị cáo.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Ngô Quang T có giá trị đến 24/11/2026 cho bị cáo Ngô Quang T.
2.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Ngô Quang T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Tống Thị T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Minh |
5
6
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Quang T phạm tội " Vi phạm quy định về TGGTĐB"
