TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày: 16/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và bà Nguyễn Thị Lệ Thanh;
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân;
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 20/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 01/4/2024, đối với bị cáo:
NGUYỄN THÀNH T, (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 27/9/2004 tại tỉnh BT;
HKTT: thôn LS, xã TL, huyện HN, tỉnh BT;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Thành T1 và bà Trần Thị Mỹ N;
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con cả;
Vợ, con: Chưa có;
Tiền sự:
- + Ngày 13/4/2022, bị Công an xã T xử phạt hành chính do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt 750.000đ tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12571/QĐ-XPHC. Bị cáo chưa thi hành.
- + Ngày 27/6/2022, bị Công an xã T xử phạt hành chính do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt 750.000đ tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12572/QĐ-XPHC. Bị cáo chưa thi hành.
- + Ngày 29/7/2022, bị Ủy ban nhân dân xã T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian 03 tháng tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã T số 02/QĐ-XPTT. Bị cáo chấp hành xong ngày 29/10/2022.
Tiền án: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 23/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân nghiện ma túy và được bạn quen biết ngoài xã hội giới thiệu nên tối ngày 23/9/2023, Nguyễn Thành T điều khiển xe mô tô BKS 52L8-9996 chạy đến khu vực K đường Q thuộc địa bàn xã T, huyện H tìm gặp một đối tượng nam không rõ nhân thân lai lịch hỏi mua của đối tượng này một gói ma túy với giá 300.000đ. Sau đó, T cầm gói ma túy trong tay trái, điều khiển xe mô tô BKS 52L8-9996 chạy sang địa bàn huyện H để đến nhà người bạn mượn cần câu cá. Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đi đến đường hẻm liên thôn gần lò gạch Đ thuộc thôn A, xã S, huyện H thì gặp tổ tuần tra Công an xã S, thấy T có dấu hiệu khả nghi nên tổ tuần tra chặn lại kiểm tra hành chính. T dừng xe đồng thời thả gói ma túy đang cầm trong tay rơi xuống đất nhằm phi tang, thì bị công an xã S thu giữ 01 gói nylon màu trắng được khóa nhíp, kích thước (7×4) cm, bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng. T khai nhận đây là ma túy do T mua về để sử dụng nên tổ tuần tra Công an xã S biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, đồng thời niêm phong vật chứng và bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện H xử lý.
Tại Kết luận giám định số 1189/KL-KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B xác định:
- - 01 gói nylon một đầu có khóa kéo, bên trong có chứa tinh thể màu trắng được ký hiệu là M: Có khối lượng là 0,5462gam, là Methamphetamine.
Vật chứng vụ án thu giữ gồm có:
- - 0,5462gam Methamphetamine, hiện còn 0,4269 gam (Do lấy mẫu giám định) cùng 01 gói nylon một đầu có khóa kéo.
- - 01 xe mô tô BKS 52L8-9996.
Với nội dung như trên, Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 18/3/2024 của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKSND huyện Hàm Tân đã viện dẫn trong Cáo trạng.
Đại diện VKSND huyện Hàm Tân giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 0,4269 gam Methamphetamine cùng 01 gói nylon một đầu có khóa kéo.
* Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đồng ý với nội dung và tội danh mà Cáo trạng của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố, đồng thời xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 20 giờ ngày 23/9/2023, tại đường H thuộc thôn A, xã S, huyện H, Nguyễn Thành T đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy có khối lượng 0,5462 gam. Khi gặp tổ tuần tra Công an xã S, bị cáo thả gói ma túy xuống đất nhưng bị phát hiện. Công an xã S đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển Công an huyện H xử lý.
Tại các biên bản ghi lời khai của bị cáo; biên bản hỏi cung; lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều thống nhất hành vi của bị cáo đúng như cáo trạng đã nêu.
Tại Kết luận giám định số 1189/KL-KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B xác định: 01 gói nylon một đầu có khóa kéo, bên trong có chứa tinh thể màu trắng được ký hiệu là M: Có khối lượng là 0,5462gam, là Methamphetamine
Bị cáo T tàng trữ trái phép 0,5462gam Methamphetamine để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo xâm phạm khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là chế độ quản lý của Nhà nước về chất Ma túy. Bị cáo T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là hiểm họa của con người và xã hội, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, mà còn là nguyên nhân sản sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ điều này, nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo T đã bất chấp hậu quả, bất chấp pháp luật, tàng trữ ma túy để sử dụng. Bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính, cũng như bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã vì hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải dành cho bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe đối với bị cáo cũng như thông qua đó phòng ngừa tội phạm chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy, cũng như rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, hiện không xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan chức năng không thể tiến hành điều tra làm rõ theo quy định nên không xem xét trong vụ án này.
[7] Về vật chứng vụ án:
- - Đối với 0,4269 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 gói nylon kích thước (7×4) cm, một đầu có khóa kéo, đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với xe máy BKS 52L8-9996, đây là xe do ông Nguyễn Thành T1 – cha của bị cáo mua lại của bà Huỳnh Thị Ngọc L, ông T1 không biết việc bị cáo sử dụng xe máy để đi mua ma túy, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại cho ông T1 nên HĐXX không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/9/2023.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng: Khoản 1 Điều 46, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,4269 gam Methamphetamine cùng 01 gói nylon kích thước (7×4) cm, một đầu có khóa kéo. Tất cả được niêm phong trong phong bì số 1189 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Trang |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành T bị truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất Ma túy"
