|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15/8/2024 V/v tranh chấp: "Ly hôn, con chung" |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Thuần và bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Lưu Hải Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 15/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1994; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt
HKTT: TDP 2 Đông, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bị đơn: Anh Dương Văn M, sinh năm 1994. Vắng mặt
Địa chỉ: TDP 2 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2024, bản tự khai, quá trình giải quyết nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày:
Chị và anh Dương Văn M kết hôn ngày 17/10/2013 có đăng kí kết hôn tại UBND thị trấn Y, huyện Y, Vĩnh Phúc. Trước khi cưới được tự do tìm hiểu, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc. Sau khi kết hôn chị về làm dâu và chung sống cùng gia đình anh M. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng thời gian đầu bình thường, hạnh phúc, đến năm 2021 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Anh M còn có quan hệ với người khác sau đó về đánh đập chị. Do không chịu được cuộc sống như vậy nên chị và anh M đã sống ly thân. Đến nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Văn M.
Về con chung: Chị và anh M có 03 người con chung là cháu Dương Hải Đ, sinh ngày 21/01/2014; cháu Dương Minh N1, sinh ngày 29/01/2016 và cháu Dương Minh K, sinh ngày 28/8/2019. Hiện tại cháu Đ đang ở với chị và ông bà ngoại; còn cháu N1 và cháu K đang ở với anh M và ông bà nội. Ly hôn chị đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Đ; để anh M tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cháu N1 và cháu K. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, tài sản riêng: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về vay nợ, công sức, đất canh tác: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Anh Dương Văn M đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc nên không có lời khai.
* Xác minh tại thị trấn Y thể hiện: Chị Hoàng Thị N và anh Dương Văn M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, vào số sổ đăng ký số 124/2013 ngày 17/10/2013.
Sau khi kết hôn xong chị N về làm dâu gia đình anh M. Tình cảm vợ chồng đầm ấm hạnh phúc nên có 03 con chung. Sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không nắm được.
Về con chung: Anh M và chị N có 03 con chung là cháu là Dương Hải Đ, sinh ngày 21/01/2014; cháu Dương Minh N1, sinh ngày 29/01/2016 và cháu Dương Minh K, sinh ngày 28/8/2019.
Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định, bị đơn không đến Tòa án để làm việc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị N, xử cho chị Hoàng Thị N ly hôn anh Dương Văn M; Về con chung: Giao cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cháu cháu Dương Minh N1, sinh ngày 29/01/2016 và cháu Dương Minh K, sinh ngày 28/8/2019; giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Dương Hải Đ, sinh ngày 21/01/2014. Anh M, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Về án phí: Chị N phải chịu án phí Hôn nhân gia đình theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị N có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc giải quyết vụ án tranh chấp về ly hôn với anh Dương Văn M, anh M hiện trú tại TDP 2 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết, chị Hoàng Thị N có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Dương Văn M nhưng anh M vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ tình cảm vợ chồng: Chị Hoàng Thị N và anh Dương Văn M được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của chị N thì quá trình chung sống, đến năm 2021 giữa anh M và chị N đã phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh M sống không có trách nhiệm với gia đình, có quan hệ với người đàn bà khác nhưng lại tỏ thái độ nghi ngờ, ghen tuông chị. Khi chị góp ý thì anh M không sửa đổi mà còn chủi bởi, đánh đập dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, đến đầu năm 2022, anh chị đã sống ly thân. Từ khi sống ly thân đến khi Tòa án giải quyết, xét xử, giữa hai bên không có sự quan tâm, hàn gắn tình cảm với nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án chị N có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt và không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh M nhiều lần, nhưng anh M không đến Tòa án làm việc không có lý do. Chứng tỏ anh M không còn quan tâm đến hôn nhân giữa anh và chị N. Xét thấy, hôn nhân của chị N và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị N ly hôn anh M là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị N và anh M có 03 người con chung là cháu Dương Hải Đ, sinh ngày 21/01/2014; cháu Dương Minh N1, sinh ngày 29/01/2016 và cháu Dương Minh K, sinh ngày 28/8/2019. Hiện tại cháu Đ đang ở với chị N và ông bà ngoại; còn cháu N1 và cháu K đang ở với anh M và ông bà nội. Ly hôn chị N xin được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Đ, anh M tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cháu N1 và cháu K. Anh M mặc dù không đến Tòa án để làm việc nhưng có ý kiến để anh nuôi dưỡng và chăm sóc cả 03 cháu. Xét thấy: Hiện tại cả chị N và anh M đều đủ điều kiện đảm bảo cho sự pháp triển sinh hoạt, học tập cho các con. Anh M xin được nuôi dưỡng và chăm sóc cả 03 con chung nhưng cũng không đưa ra được căn cứ xác định nếu giao cháu Đ cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển của cháu. Vì vậy, để tránh sự xáo trộn trong cuộc sống của các cháu, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, cần giao cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N1 và cháu K, chị N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đ; anh M, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, quá trình giải quyết vụ án anh M vắng mặt nên không có ý kiến, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này mà sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu của đương sự.
[3] Về án phí: Chị N xin ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[5]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Dương Văn M.
2. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị N được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Dương Hải Đ, sinh ngày 21/01/2014; giao cho anh Dương Văn M được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Dương Minh N1, sinh ngày 29/01/2016 và cháu Dương Minh K, sinh ngày 28/8/2019. Anh M, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
2. Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0003166 ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc. Chị N đã thực hiện xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị N, anh Dương Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hưng |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn, con chung
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Ng xin ly hôn anh M do mâu thuẫn
