Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY ĐỨC

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HSST

Ngày 14 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quang Trung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Phạm Thiên Viết.

Thư ký phiên tòa: Ông Điểu Smi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuy Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2024/HSST ngày 16/01/2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HS ngày 17/01/2024; quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/HSST-QĐ ngày 30/01/2024; quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/HSST-QĐ ngày 29/02/2024; quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/HSST-QĐ ngày 29/3/2024; quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/HSST-QĐ ngày 29/4/2024; quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/HSST-QĐ ngày 29/5/2024 đối với bị cáo:

Đỗ Văn V

(tên gọi khác: Không), sinh năm 1987 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Đỗ Văn T, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Ngọc Á, sinh năm 1965; có vợ là Thị G, sinh năm 1980 và 06 con (lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2022);

Nhân thân: Ngày 25/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xử phạt 08 tháng tù, về tội “Hủy hoại rừng” theo khoản 1 Điều 189 Bộ luật hình sự, đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích;

Tiền án; tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 23/8/2023 – có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn V:

- Ông Y L – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Nông – có mặt.

- Ông Phạm Quang L1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Nông - có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị hại:

- Anh Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1983; Địa chỉ: Bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – có mặt.

- Anh Nguyễn Tấn L2, sinh năm 1985; Địa chỉ: Bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1984; Địa chỉ: Bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

- Chị Lê Thị H, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 12/4/2023, bà Nguyễn Thị Mỹ D sinh năm 1984, trú tại bon Đ, xã Đ, huyện T mời Nguyễn Tấn L2, Huỳnh Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Lê Thị H, Đỗ Văn V và Bùi Đức D1 cùng một số người đến ăn đám giỗ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì giữa Diện và V xảy ra mâu thuẫn nên Đỗ Văn V đi ra ngoài, nhặt 01 cục đá ném vào mặt D1 nhưng không gây thương tích, được mọi người can ngăn nên cả hai về nhà.

Khoảng 16 giờ cùng ngày, Đỗ Văn V đang nằm ngủ tại nhà thuộc bon Đ, xã Đ, huyện T thì một nhóm 06 người gồm: Nguyễn Tấn L2, Huỳnh Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Lê Thị H, Nguyễn Thị Mỹ D và Nguyễn Ngọc Mỹ H1 (con Huỳnh Văn Đ) đến nhà V. L2 và T1, Đ đi vào, đứng ở gần cửa nhà, gọi V ra để nói chuyện. Những người còn lại, đứng rải rác ở khu vực sân và đường liên thôn, phía trước nhà V. Khi V nghe thấy tiếng gọi thì mở cửa đi ra, đứng nói chuyện với L2, Đ, T1 về việc V ném đá trúng vào người D1. Trong lúc nói chuyện, T1 tiến đến dùng tay, chân đấm đá trúng vào người V nên Vũ lùi vào trong nhà, cầm một con dao rựa dài 80cm, lưỡi bằng kim loại dài 23cm, mũi rựa bằng, cán tròn bằng tre dài 57cm, đường kính 2,5cm dựng ở vách tường gỗ gần cửa, đi ra trước sân nhà. Thấy V cầm dao rựa đi ra, T1 và một số người khác bỏ chạy. L2 vừa quay lưng bỏ chạy thì bị V đuổi theo, khi cả hai còn cách nhau khoảng 1,5m thì V dùng hai tay cầm rựa chém một nhát, từ phải qua trái, trúng vào vùng phía dưới vai phải của L2, làm L2 bị rách da chảy máu, gãy xương bả vai phải, gãy sau xương sườn số 7 bên phải, rách phổi bên phải kích thước 07x1,5cm. Sau khi bị chém, L2 bỏ chạy ra đường, phía trước nhà V và được Lê Thị H đưa đi cấp cứu, V tiếp tục quay người qua bên phải thì thấy Đ đang đứng đối diện, cách mình khoảng 1.5 mét nên V dùng hai tay cầm rựa, chém một nhát từ trên xuống dưới, Đ đưa tay phải lên đỡ nên bị rựa chém trúng vào dưới cẳng tay phải gây thương tích. Đ bỏ chạy được khoảng 05 mét thì té ngã xuống sân nhà V. Thấy vậy, Nguyễn Thị Mỹ D gọi điện thoại cho Trần Nguyễn Tấn D2

(con trai D) đến nhà V để chở Đ đi cấp cứu. Sau đó, Đỗ Văn V đến Công an xã Đ trình báo sự việc và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 178/KLTTCT-TTPY ngày 22/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Tấn L2 là 23% (hai mươi ba phần trăm). Vết thương do vật sắc tác động gây nên.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 266/KLTTCT-TIPY ngày 07/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giảm định của Huỳnh Văn Đ là 57% (năm mươi bảy phần trăm). Vết thương do vật sắc tác động gây nên.

Vật chứng đã thu giữ: 01 dao rựa có chiều dài 80cm, lưỡi bằng kim loại dài 23cm, mũi dao rựa bằng, phần cán tròn bằng tre dài 57cm, đường kính 2,5cm.

Cáo trạng số 08/CTr-VKS ngày 16/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đã truy tố bị cáo Đỗ Văn V về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã xác định: Do có mâu thuẫn cá nhân nên khoảng 16 giờ ngày 12/4/2023, tại nhà Đỗ Văn V thuộc bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông, V đã có hành vi dùng dao rựa chém vào vùng dưới vai phải của Nguyễn Tấn L2 gây thương tích với tỷ lệ 23%; V tiếp tục dùng dao chém vào cẳng tay phải của Huỳnh Văn Đ gây thương tích với tỷ lệ là 57%. Hành vi của bị cáo Đỗ Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”, áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn V từ 07 năm tù đến 08 năm tù.

Xử lý vật chứng: Căn cứ cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 dao rựa có chiều dài 80cm, lưỡi bằng kim loại dài 23cm, mũi dao rựa bằng, phần cán tròn bằng tre dài 57cm, đường kính 2,5cm.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Tấn L2 có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 đồng; bị hại Huỳnh Văn Đ yêu cầu bị cáo Đỗ Văn V bồi thường số tiền 142.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường 100.000.000 đồng mà anh L2 và 142.000.000 đồng mà anh Đ đã yêu cầu; nên cần ghi nhận sự thỏa thuận, buộc bị cáo phải bồi thường 100.000.000 đồng cho anh L2 và bồi thường 142.000.000 đồng cho anh Đ.

Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn V trình bày: Đồng ý với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đã áp dụng đối với bị

cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ một phần lỗi của bị hại; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ nghèo, không có nhà cửa, đất đai, phải đi ở nhờ, đông con, bị cáo là lao động chính; đã bồi thường được một phần thiệt hại cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và miễn án phí hình sự và dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan; bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân nên khoảng 16 giờ ngày 12/4/2023, tại nhà Đỗ Văn V thuộc bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông, V đã có hành vi dùng dao rựa chém 01 nhát vào vùng dưới vai phải của anh Nguyễn Tấn L2, gây thương tích với tỷ lệ 23%. V tiếp tục dùng dao chém 01 nhát vào cẳng tay phải của anh Huỳnh Văn Đ gây thương tích với tỷ lệ là 57%.

Vì vậy, có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Đỗ Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a, D3 hung khí nguy hiểm ...;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

c, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;”

Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án do bị cáo Đỗ Văn V gây ra là nghiêm trọng; bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện; hành vi dùng dao chém gây thương tích cho anh L2, Đ đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường được 8.000.000 đồng cho bị hại anh Đ; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo; tại phiên tòa, bị hại anh Đ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Kết hợp tình tiết giảm nhẹ nêu trên để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Đối với ý kiến của người bào chữa, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” theo điểm e khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Không có căn cứ để xác định các bị hại có hành vi trái pháp luật với bị cáo nên đề nghị của người bào chữa là không có căn cứ chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Tấn L2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 đồng; bị hại Huỳnh Văn Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 142.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn V đồng ý bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của anh L2, Đ; xét thấy việc bị cáo đồng ý bồi thường là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần chấp nhận. Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật dân sự buộc: Bị cáo Đỗ Văn V phải bồi thường 100.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Tấn L2; bồi thường 142.000.000 đồng cho bị hại Huỳnh Văn Đ.

[6] Về vật chứng: Đối với 01 dao rựa có chiều dài 80cm, lưỡi bằng kim loại dài 23cm, mũi dao rựa bằng, phần cán tròn bằng tre dài 57cm, đường kính 2,5cm cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7]. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn V thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo V theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[8]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn V 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/8/2023.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật dân sự:
    1. Buộc bị cáo Đỗ Văn V phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Tấn L2 100.000.000 đồng (một trăm triệu).
    2. Buộc bị cáo Đỗ Văn V phải bồi thường bị hại Huỳnh Văn Đ số tiền 142.000.000 đồng (một trăm bốn mươi hai triệu).
  3. Về vật chứng: Áp dụng a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 con dao. (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức).
  4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Đỗ Văn V.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng PC 06, PC 10 - CA tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Tuy Đức;
  • - CA huyện Tuy Đức;
  • - Chi Cục THADS huyện Tuy Đức;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu, HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Phan Quang Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HSST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 29/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger