|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày: 14/6/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quàng Văn Xôm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Khắc Thiện.
- Ông: Lò Trung Kiên.
Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Chức – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm Sát Viên.
Ngày 14/6/2024 tại trụ sở Toà án nhân, huyện M, tỉnh Điện Biên, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 14/5/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Khoàng Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1996, tại huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Khoàng Văn T, con bà: Tòng Thị Q; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/6/2016 Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng, ngày 05/6/2018 chấp hành xong trở về địa phương. Ngày 16/02/2024, tổ công tác Công an xã P phát hiện bắt quả tang Khoàng Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tạm giữ, đến ngày 25/02/2024 tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Điện Biên cho đến nay, có mặt.
*) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Tòng Văn N - Sinh năm 1986; Địa chỉ trú tại: Bản P, xã P, huyện M, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/02/2024, sau khi mượn xe mô tô BKS 27V1- 028.50 của Tòng Văn N là người cùng bản Khoàng Văn H điều khiển xe đến khu vực thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến thôn N, H gặp và trao đổi mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch 01 gói Heroine giá 400.000 đồng và 01 gói ma túy tổng hợp bên trong có các viên nén màu hồng và màu xanh giá 600.000 đồng. Mua được ma túy H điều khiển xe đi về nhà rồi mở gói Heroine kiểm tra và đếm số ma túy tổng hợp được 28 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh. Sau đó H lấy 04 viên nén màu hồng đã bị sứt mẻ, không còn nguyên vẹn ra sử dụng bằng hình thức hút, số viên nén còn lại H cất vào trong một chiếc lọ nhựa, còn số Heroine thì lấy mảnh nilon màu xanh gói lại rồi cất toàn bộ vào trong chiếc ba lô. Sáng ngày 16/02/2024, H trích một ít Heroine ra sử dụng bằng hình thức chích và lấy 02 viên nén màu hồng đã bị sứt mẻ, không còn nguyên vẹn ra sử dụng bằng hình thức hít. Khoảng 14 giờ cùng ngày, H trích một ít Heroine bỏ vào bơm kim tiêm để sử dụng, một ít mảnh vụn H đặt trên mảnh giấy của vỏ bao thuốc lá Thăng Long, số H còn lại H gói lại vào mảnh nilon màu xanh và để trên phản gỗ chỗ H ngủ cùng với chiếc lọ nhựa bên trong có các viên nén màu hồng và màu xanh. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày, khi H vừa sử dụng xong số Heroine trong bơm kim tiêm thì tổ công tác Công an xã P vào kiểm tra. Quá trình kiểm tra tổ công tác đã phát hiện và thu giữ tại chỗ H ngồi trên tấm phản bằng gỗ 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh và nhiều mảnh vỡ vụn Heroine để trên mảnh giấy màu vàng trắng loại của vỏ bao thuốc lá Thăng L, 01 lọ nhựa màu xanh bên trong là 01 túi nilon màu xanh, trong túi có 22 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh. Tổng khối lượng số Heroine là 0,655 gam, 22 viên nén màu hồng là Methamphetamine có khối lượng 2,062 gam, 02 viên nén màu xanh có khối lượng 0,184 gam không phải ma tuý. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Khoàng Văn H, niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại công văn số : 07/CV-KTHS ngày 10/4/2024 của phòng K1 Công an tỉnh Đ xác định : Không đủ căn cứ xác định khối lượng của 06 viên ma tuý tổng hợp đã bị sứt mẻ, không còn nguyên vẹn mà Khoàng Văn H khai là đã sử dụng hết. Vì vậy, không đủ căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự đối với Khoàng Văn H đối với hành vi cất giấu số ma tuý đó để sử dụng.
Vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ: 0,655 gam Heroine, gửi toàn bộ giám định hoàn lại 0,54 gam; 2,062 gam Methamphetamine gửi toàn bộ giám định hoàn lại 1,88 gam; 0,184 gam viên nén màu xanh gửi toàn bộ giám định hoàn lại 0,14 gam; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy màu vàng trắng của vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 lọ nhựa màu xanh; 01 túi nilon màu xanh; 01 chiếc dao lam; 01 bơm kim tiêm; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; số tiền 770.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số: 396/ KL-KTHS ngày 22/02/2024 của phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Khoàng Văn H
0,655 gam là chất ma tuý: Loại Heroine; 2,062 gam là chất ma tuý: Loại Methamphetamine.
Tại cáo trạng số 19/CT-VKSMC ngày 13/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên truy tố Khoàng Văn H ra trước Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên để xét xử về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249/BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quan điểm quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố Khoàng Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS: Xử phạt bị cáo Khoàng Văn H từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù; Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, kinh tế khó khăn nên đề nghị miễn không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS.
- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 0,54 gam Heroine; 1,88 gam Methamphetamine; 0,14 gam viên nén màu xanh; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy màu vàng trắng của vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 lọ nhựa màu xanh; 01 túi nilon màu xanh; 01 chiếc dao lam; 01 bơm kim tiêm; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
- Đề nghị tuyên trả số tiền 770.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội cho bị cáo .
- Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Nguồn gốc ma túy mà bị cáo bị thu giữ bị cáo khai mua của một người phụ nữ không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu do vậy không cơ sở điều tra xử lý theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Khoàng Văn H khai và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự là đúng, không oan sai.
Trong quá trình điều tra Tòng Văn N khai: Bị cáo H mượn xe mô tô của N để đi công việc, việc bị cáo H sử dụng xe đi mua ma tuý N không biết nên không xử lý đối với N.
Sau khi nghe lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Xét về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, từ lúc khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đảm bảo về hình thức, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét về hành vi của bị cáo: Qua tranh tụng và xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Khoàng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 16/02/2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ hồi 15 giờ 55 phút, ngày 16/02/2024; Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng vào hồi 21 giờ 20 phút, ngày 16/02/2024; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng vào hồi 01 giờ 30 phút, ngày 17/02/2024; Bản kết luận giám định số 396/KL-KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Hồi 14 giờ 20 phút ngày 16/02/2024, tại khu vực bản P, xã P, huyện M, tỉnh Điện Biên, tổ công tác Công an xã P phát hiện bắt quả tang Khoàng Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,655 gam Heroine và 2,062 gam Methamphetamine, với mục đích sử dụng cho bản thân.
[3]. Xét hành vi tàng trữ trái phép 0,655 gam Heroine và 2,062 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội nghiêm trọng, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Nhà nước ta nghiêm cấm, mua bán, tàng trữ..., trái phép các chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào đều phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật. Bị cáo nhận thức và hiểu rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật mọi hành vi và hậu quả của mình đã gây ra. Với hành vi và khối lượng ma túy nêu trên của bị cáo H đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249/ BLHS.
Vậy, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Khoàng Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại điểm i Khoản 1 Điều 249 quy định:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường họp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
... i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.
[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Từ nhỏ được bố mẹ nuôi dưỡng học hết lớp 6/12 thì bỏ học ở nhà phụ giúp bố mẹ làm nông nghiệp. Ngày 27/6/2016 Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Ngày 05/6/2018 chấp hành xong trở về địa phương. Ngày 16/02/2024 bị Công an xã P bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, ông nội của bị cáo là người được cấp giấy chứng nhận dân công hoả tuyến khi tham gia kháng chiến chống Mỹ đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng: Như chúng ta đã biết ma túy là loại độc dược nó hủy hoại sức khỏe của con người, làm suy thoái phẩm chất đạo đức nếu ai sử dụng nó, làm khuynh gia bại sản gia đình ly tan, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân của bị cáo không những đã trực tiếp hủy hoại sức khỏe của bị cáo mà còn tiếp tay cho các đối tượng khác mua bán trái phép chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ ma túy. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ thì áp dụng mức tối đa mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
[6]. Xét về hình phạt bổ sung: Qua biên bản xác minh của Cơ quan điều tra thể hiện bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, kinh tế khó khăn nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS.
[7]. Vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy màu vàng trắng của vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 lọ nhựa màu xanh; 01 túi nilon màu xanh; 01 chiếc dao lam; 01 bơm kim tiêm; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 (một) phong bì của phòng K1, Công an tỉnh Đ (Bên trong phong bì chứa 0,54 gam heroine; 1,88 gam Methamphetamine; 0,14 gam viên nén màu xanh) là vật cấm tàng trữ, lưu hành và là vật không còn giá trị sử dụng.
Trả lại cho bị cáo số tiền 770.000 đồng, tiền không liên quan đến hành vi phạm tội.
Trong quá trình điều tra Tòng Văn N khai: Bị cáo H mượn xe mô tô của N để đi công việc, việc bị cáo H sử dụng xe đi mua ma tuý N không biết nên HĐXX không đề cập xem xét xử lý đối với Tòng Văn N.
[8]. Nguồn gốc ma túy mà bị cáo bị thu giữ bị cáo khai mua của một người phụ nữ, nhưng bị cáo không họ tên tuổi địa chỉ của người này nên không có cơ sở điều tra xử lý theo quy định. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo, Công an huyện M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là đúng quy định. Đối với 06 viên ma tuý tổng hợp đã bị sứt mẻ, không còn nguyên vẹn mà bị cáo đã sử dụng hết do không đủ căn cứ xác định khối lượng nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cất giấu ma tuý để sử dụng.
[9]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí nên HĐXX xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Khoàng Văn H đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS.
- Xử phạt bị cáo Khoàng Văn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/02/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu huy: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy màu vàng trắng của vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 lọ nhựa màu xanh; 01 túi nilon màu xanh; 01 chiếc dao lam; 01 bơm kim tiêm; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 (một) phong bì của phòng K1,
Công an tỉnh Đ (Bên trong phong bì chứa, 054 gam heroine; 1,88 gam Methamphetamine; 0,14 gam viên nén màu xanh).
Trả lại cho bị cáo số tiền 770.000 đồng, tiền không liên quan đến hành vi phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 08 giờ 30 phút, ngày 14/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Điện Biên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên).
4. Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Áp dụng Điều 331 và 333/BLTTHS, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/6/2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án phần quyết định liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Quàng Văn Xôm |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Lò Trung Kiên | Nguyễn Khắc Thiện | Quàng Văn Xôm |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 08 giờ 40 phút ngày 14 tháng 6 năm 2024.
Tại trụ phòng nghị án Tòa án nhân dân, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Quàng Văn X.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Khắc T1.
- Ông: Lò Trung K.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với:
Bị cáo Khoàng Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1996, tại huyện M, tỉnh Điện Biên.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên toà; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập, hoàn toàn hợp pháp đã thực hiện đảm bảo về hình
thức, đúng về thẩm quyền, được tiến hành theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
1. Về tội danh Khoàng Văn H phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
*) Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
2. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38/BLHS.
- Xử phạt bị cáo Khoàng Văn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ ngày 16/02/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo cho việc thi hành án sau này.
*) Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy màu vàng trắng của vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 lọ nhựa màu xanh; 01 túi nilon màu xanh; 01 chiếc dao lam; 01 bơm kim tiêm; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 (một) phong bì của phòng K1, Công an tỉnh Đ (Bên trong phong bì chứa, 054 gam heroine; 1,88 gam Methamphetamine; 0,14 gam viên nén mầu xanh).
Trả lại cho bị cáo số tiền 770.000 đồng, tiền không liên quan đến hành vi phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 08 giờ 30 phút, ngày 14/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Điện Biên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên).
*) Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
4. Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
*) Căn cứ Điều 331 và 333/BLTTHS, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/6/2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án phần quyết định liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
*) Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
Nghị án kết thúc vào hồi 08 giờ 45 phút ngày 14 tháng 6 năm 2024. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Lò Trung Kiên | Nguyễn Khắc Thiện | Quàng Văn Xôm |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoàng văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
