Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST

Ngày 14-5-2024

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Uyên;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Khel

Bà Nguyễn bạch Nhạn

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức - là thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền – Kiểm Sát viên.

Trong ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Mỹ H, sinh ngày 23/11/1978; Địa chỉ: Số A đường C, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Hứa Minh H1, sinh ngày 13/7/1973; Địa chỉ: Số A đường C, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam K - Tổng cục A. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 07/3/2024 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lâm Thị Mỹ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Mỹ H và ông Hứa Minh H1 tự nguyện kết hôn vào năm 1999, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/3/1999 tại UBND xã P, huyện M (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2023 do ông H phạm tội và phải đi chấp hành án ở Trại giam kênh 5, tỉnh Hậu Giang nên hạnh phúc đỗ vỡ, khi thăm nom ông H1 có kêu bà H ly hôn với ông H1 để cho mỗi người được tự do, không còn ràng buộc và tình cảm không thể hàn gắn lại với nhau nên bà H mới yêu cầu ly hôn với ông H1.

Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông H1 có 03 người con chung tên Hứa Kỳ H2 (nam, sinh ngày 21/01/2000), Hứa Thị Ngọc B (nữ, sinh ngày 8/3/2005), Hứa Thị Bích T (nữ, sinh ngày 8/3/2005) hiện các con đã trưởng thành. Đồng thời ông, bà không có tạo lập được tài sản chung và cũng không có nợ chung.

Nay bà Lâm Thị Mỹ H yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Mỹ H được ly hôn với ông Hứa Minh H1.

Về con chung: Do các con Hứa Kỳ H2 (nam, sinh ngày 21/01/2000), Hứa Thị Ngọc B (nữ, sinh ngày 8/3/2005), Hứa Thị Bích T (nữ, sinh ngày 8/3/2005) đã trưởng thành nên không yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lâm Thị Mỹ H tự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/3/2024, bị đơn ông Hứa Minh H1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông H1 thống nhất với bà H về thời gian ông bà chung sống, đăng ký kết hôn. Theo ông H1 ông không có kêu bà H ly hôn. Hiện nay ông còn thương bà H nhưng do bà H cương quyết xin ly hôn nên ông cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H.

Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông H1 có 03 người con chung tên Hứa Kỳ H2 (nam, sinh ngày 21/01/2000), Hứa Thị Ngọc B (nữ, sinh ngày 8/3/2005), Hứa Thị Bích T (nữ, sinh ngày 8/3/2005) hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: ông Hứa Minh H1 tự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của kiểm sát viên:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Lâm Thị Mỹ H được ly hôn với ông Hứa Minh H1; Về con chung 03 người con chung tên Hứa Kỳ H2 (nam, sinh ngày 21/01/2000), Hứa Thị Ngọc B (nữ, sinh ngày 8/3/2005), Hứa Thị Bích T (nữ, sinh ngày 8/3/2005), hiện nay đã trưởng thành và có cuộc sống tự lập, bà H và ông H1 không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị Mỹ H và ông Hứa Minh H1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Tòa án không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Theo đơn khởi kiện thì bà Lâm Thị Mỹ H yêu cầu ly hôn với ông Hứa Minh H1. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình, quan hệ pháp luật để giải quyết là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bị đơn ông Hứa Minh H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: bà Lâm Thị Mỹ H và ông Hứa Minh H1 đăng ký kết hôn vào ngày 11/3/1999 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng, trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, nguyên nhân theo bà H trình bày do ông H1 có hành vi vi phạm pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H và ông H1 đều thống nhất ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, thực trạng mâu thuẫn giữa bà H và ông H1 đã đến mức trầm trọng, ông bà không còn sống chung với nhau, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị Mỹ H cho bà được ly hôn với ông Hứa Minh H1.

Về con chung: Bà Lâm Thị Mỹ H và ông Hứa Minh H1 thống nhất trình bày, trong quá trình chung sống bà và ông Hứa Minh H1 có 03 người con chung tên Hứa Kỳ H2 (nam, sinh ngày 21/01/2000), Hứa Thị Ngọc B (nữ, sinh ngày 8/3/2005), Hứa Thị Bích T (nữ, sinh ngày 8/3/2005). Hiện nay các con đã trưởng thành và cuộc sống tự lập, bà H và ông H1 không yêu cầu Toà án giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay 03 người con chung của bà H và ông H1 là Hứa Kỳ H2, Hứa Thị Ngọc B và Hứa Thị Bích T đã đủ tuổi 18 tuổi và cuộc sống tự lập, bà H và ông H1 không yêu cầu Toà án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị Mỹ H và ông Hứa Minh H1 tự khai không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: bà Lâm Thị Mỹ H phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự.
  • - Căn cứ Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Mỹ H được ly hôn ông Hứa Minh H1.
  2. Về con chung: Bà Lâm Thị Mỹ H và ông Hứa Minh H1 thống nhất có 03 người con chung tên Hứa Kỳ H2 (nam, sinh ngày 21/01/2000), Hứa Thị Ngọc B (nữ, sinh ngày 8/3/2005), Hứa Thị Bích T (nữ, sinh ngày 8/3/2005). Hiện nay các con đã trưởng thành và cuộc sống tự lập, bà H và ông H1 không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị Mỹ H và ông Hứa Minh H1 tự khai không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Bà Lâm Thị Mỹ H phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001530 ngày 11/3/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Sóc Trăng. Bà H đã nộp xong án phí.

Bà Lâm Thị Mỹ H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ông Hứa Minh H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND - TPST;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Thi hành án DS - TPST;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger