|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST Ngày 14 tháng 5 năm 2024 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Hương;
- Bà Tăng Thị Hiệu.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 270/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXX-ST ngày 01/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1985
- Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Quang T1, sinh năm 1984
- Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- (Chị T có mặt, anh T1 vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Trần Thị T có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại phiên tòa như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quang T1 tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 25/02/2008 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 01/2023 đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.
Về con chung: Chị T và anh T1 có 03 con chung Nguyễn Trần Khánh L, sinh ngày 13/11/2008; Nguyễn Trần Phúc Đ, sinh ngày 02/6/2013; Nguyễn Trần Quỳnh A, sinh ngày 28/12/2015 hiện 03 con chung đang ở cùng chị T. Ly hôn chị T đề nghị được nuôi 03 con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị làm công nhân tại Công ty TNHH T2 thu nhập 1 tháng là 10.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai có sự chứng kiến của gia đình anh T1 và cơ sở thôn T thì anh Nguyễn Quang T1 trình bày: Anh xác nhận lời trình bày của chị T về thời gian hoàn cảnh kết hôn là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã A và lao động tự do. Nay Chị T có đơn xin ly hôn thì anh T1 đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nếu chị T kiên quyết ly hôn thì anh T1 đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung hiện con chung đang ở cùng Chị T. Ly hôn anh T1 mong muốn được nuôi 02 con là Nguyễn Trần Phúc Đ, sinh ngày 02/6/2013; Nguyễn Trần Quỳnh A, sinh ngày 28/12/2015 và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung, hiện nay anh làm lao động tự do thu nhập 1 tháng là 20.000.000 đồng.
- Tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Trần Khánh L trình bày: Cháu Nguyễn Trần Khánh L, sinh ngày 13/11/2008 là con đẻ của chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang T1. Hiện cháu L đang học lớp 10 trường T3 (cơ sở 2). Nếu Chị T, anh T1 ly hôn thì cháu L có nguyện vọng ở cùng chị Trần Thị T.
- Tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Trần Phúc Đ trình bày: Cháu Nguyễn Trần Phúc Đ, sinh ngày 02/6/2013 là con đẻ của chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang T1. Hiện cháu P đang học lớp 5A2 Trường tiểu học xã A. Nếu Chị T, anh T1 ly hôn thì cháu P có nguyện vọng ở cùng chị Trần Thị T.
- Tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Trần Quỳnh A trình bày: Cháu Nguyễn Trần Quỳnh A, sinh ngày 28/12/2015 là con đẻ của chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang T1. Hiện cháu A đang học lớp 3A1 Trường tiểu học xã A. Nếu Chị T, anh T1 ly hôn thì cháu A có nguyện vọng ở cùng chị Trần Thị T.
- Tại biên bản xác minh với gia đình anh T1 thể hiện: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang T1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 25/02/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống được hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng nợ nần nhiều. Hiện nay chị T và anh T1 đã sống ly thân mỗi người một nơi. Nay Chị T có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị T và anh T1 có 03 con chung hiện đang ở cùng Chị T, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng các bên. Về tài sản chung: không nắm rõ.
- Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn T, thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:
Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang T1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 25/02/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn thì cơ sở thôn nắm được anh Nguyễn Quang T1 có chơi cờ bạc. Hiện nay chị T và anh T1 đã sống ly thân mỗi người một nơi. Nay chị T có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị T và anh T1 có 03 con chung hiện đang ở cùng Chị T, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Cơ sở thôn không nắm rõ.
- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang T1 là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã A, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T1 như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... Tại phiên tòa ngày 24/4/2024, anh T1 vắng mặt không có lý do, Tòa án đã hoãn phiên tòa, ấn định lại thời gian xét xử vào ngày 14/5/2024, anh T1 vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của Chị T, anh T1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 25/02/2008 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2023 đến nay không hỏi han, chia sẻ với nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc Chị T đề nghị ly hôn nhưng anh T1 không đến Tòa án làm việc trình bày ý kiến và anh cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị T, anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị T, xử cho chị được ly hôn anh T1 là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang T1 có 03 con chung Nguyễn Trần Khánh L, sinh ngày 13/11/2008; Nguyễn Trần Phúc Đ, sinh ngày 02/6/2013; Nguyễn Trần Quỳnh A, sinh ngày 28/12/2015 hiện 03 con chung đang ở cùng chị. Ly hôn Chị T đề nghị được nuôi 03 con chung, anh T1 đề nghị được nuôi 02 con là Nguyễn Trần Phúc Đ, sinh ngày 02/6/2013; Nguyễn Trần Quỳnh A, sinh ngày 28/12/2015. Cháu L, Đ, Anh đều có nguyện vọng được ở cùng chị T. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của chị T, anh T1 là chính đáng, chị T, anh T1 có công việc, thu nhập ổn định tuy nhiên anh T1 hiện lao động tự do không có mặt tại địa phương. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi con 03 con chung; anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị T, anh Nguyễn Quang T1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Quang T1.
- Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi con 03 chung Nguyễn Trần Khánh L, sinh ngày 13/11/2008; Nguyễn Trần Phúc Đ, sinh ngày 02/6/2013; Nguyễn Trần Quỳnh A, sinh ngày 28/12/2015; anh Nguyễn Quang T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) Chị T đã nộp theo Biên lai thu số 0004576 ngày 13/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Quang T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quốc Doanh |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị T và anh T1
