Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13 - 6 - 2024

V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG -TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình

Ông Nguyễn Hữu Thắng

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/ TLST – HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXX-ST, ngày 10 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2024/TB-TA, ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1995

Địa chỉ: Khu L, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1987

Địa chỉ: Khu L, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

(Chị T và anh L đều có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn ngày 11/11/2013 tại UBND xã P (nay là xã H), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng ở cùng nhà bố mẹ đẻ anh L tại khu L, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng hay phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng sống không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Nguyên nhân do anh L thường xuyên rượu chè, không quan tâm đến gia đình. Gần đây, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên chị T đã dọn về nhà mẹ đẻ ở gần đó và vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có 02 con chung là: Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/10/2015 và Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 27/01/2018. Hiện các cháu đều ở cùng anh L. Chị đã nhiều lần đến đón con nhưng anh L không cho chị đón con, anh L nói rằng khi nào Tòa án xử xong vụ án nếu giao con cho chị nuôi con thì anh mới đồng ý cho chị đón con. Khi ly hôn, nguyện vọng của chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Trà M, anh L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Bích N. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn anh Nguyễn Văn L trình bày: Anh và chị Trần Thị T đăng ký kết hôn ngày 11/11/2013 tại UBND xã P (nay là xã H), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng ở cùng nhà bố mẹ đẻ anh tại khu L, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống, vợ chồng thi thoảng có sảy ra mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung do chị T không quan tâm đến gia đình. Tháng 2/2024, vợ chồng có sảy ra cãi vã, to tiếng nên chị T đã dọn về nhà mẹ đẻ ở gần đó và vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Hiện nay, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, quan điểm của anh L đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh L xác định vợ chồng có 02 con chung là: Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/10/2015 và Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 27/01/2018. Hiện các cháu đều ở cùng anh. Khi ly hôn, anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Anh không yêu cầu chị T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Anh L không đề nghị Tòa án giải quyết.

3. Ý kiến của con chung:

- Con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/10/2015 có nguyện vọng xin được ở với mẹ là chị Trần Thị T sau khi bố mẹ ly hôn.

4. Qúa trình giải quyết vụ án các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.

5. Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật không có vi phạm gì và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, Điều 55, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/ UBTQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án.

+ Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn L.

+ Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 27/01/2018 cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/10/2015 cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T, anh L không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

+ Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

+ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị T tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Quan hệ trong vụ án này là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn là chị Trần Thị T và bị đơn là anh Nguyễn Văn L. Chị T và anh L đều có nơi cư trú tại khu L, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2]. Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn L là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn ngày 11/11/2013 tại UBND xã P (nay là xã H), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị ở cùng nhà bố mẹ đẻ anh L tại khu L, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Chị T và anh L đều xác định trong cuộc sống hôn nhân của anh chị có sảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, đến đầu năm 2024, mâu thuẫn trở nên trầm trọng, nên chị T đã dọn về nhà mẹ đẻ và vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T đề nghị Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng giải quyết cho chị ly hôn anh L. Quan điểm của anh L là đồng ý ly hôn. Xét thấy, việc chị T và anh L thuận tình ly hôn là phù hợp với điều 55 Luật hôn nhân và gia đình. Do vậy cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị T và anh L.

[3] Về con chung: Chị T và anh L thống nhất vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/10/2015 và Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 27/01/2018. Hiện các cháu đều ở cùng anh L. Khi ly hôn nguyện vọng của chị T được nuôi dưỡng cháu M, để anh L nuôi dưỡng cháu N. Phía anh L đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 con là cháu M và cháu N. Chị T và anh L đều không đề nghị cấp dưỡng. Xét thấy nguyện vọng được nuôi con của chị T và anh L sau khi vợ chồng ly hôn là hoàn toàn chính đáng. Hiện tại chị T và anh L đều có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định. Nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Trà M xin được ở cùng với mẹ là chị T. Do vậy, cần giao cho chị T và anh L mỗi người nuôi một con sau khi vợ chồng ly hôn là phù hợp. Vì vậy cần giao con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/10/2015 cho chị Trần Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 27/01/2018 cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T và anh L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau do anh chị tự nguyện không yêu cầu là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị T và anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh L không đề nghị Toà án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Xét thấy việc chị T tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp, nên cần chấp nhận.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.

[7] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a, khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án.

1. Xử: cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 27/10/2015 cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung là Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 27/01/2018 cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T và anh L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Chị T và anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị T tự nguyện xin chịu cả 150.000₫ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Xác nhận chị T đã nộp tiền tạm ứng án phí 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng), tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/2023, số: 0002159, ngày 25/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả cho chị T 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Báo cho đương sự có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - UBND xã Hợp Nhất;
  • - Lưu HS + VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Trần Thị T ly hôn anh Nguyễn Văn L.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger