|
TAND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/DS-ST
Ngày 12-6-2024
V/v tranh chấp kiện đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Đô
Ông Chu Quốc Đạt
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết- Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 191/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/QĐST-DS ngày 23/5/2024 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ông Bùi Xuân D, sinh năm 1964 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965 (vắng mặt)
2. Bà Đào Thị Q, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện các bản tự khai tiếp theo nguyên đơn ông Bùi Xuân D trình bày: Ngày 17/6/2017 (âm lịch) ông có cho ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q vay số tiền là 120.000.000 đồng khi cho vay có viết giấy tờ biên nhận thỏa thuận lãi suất miệng là 0,2%/tháng, mục đích ông S, bà Q vay tiền để lấy vốn làm ăn, buôn bán. Hình thức cho vay giao tiền mặt tại gia đình ông, thời hạn cho vay hẹn đến ngày 19/3/2018 (âm lịch) sẽ trả tiền gốc và lãi, giấy vay tiền ông S và bà Q cùng ký tên vào mục người vay. Nguồn tiền ông cho ông S, bà Q vay là tiền cá nhân riêng của ông không liên quan đến vợ con. Sau khi cho ông S, bà Q vay tiền xong đến hạn trả nợ ông có đến đòi tiền nhiều lần nhưng ông S, bà Q khất lần không trả. Ngày 03/3/2019, bà Q có viết cho ông một giấy khất nợ, xin trả dần mỗi tháng là 4.000.000 đồng từ tháng 9/2019, nhưng từ đó đến nay ông S, bà Q không thực hiện đúng nội dung như đã cam kết trong giấy khất nợ. Việc ông S, bà Q không trả tiền đúng hạn như thỏa thuận làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Nay ông khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q cùng có nghĩa vụ liên đới phải trả ông số tiền gốc còn nợ là 120.000.000 đồng, về lãi suất ông không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa ông Bùi Xuân D có đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trên và xin xét xử vắng mặt.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q: Được Tòa án giao, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nhưng ông S, bà Q không đến Tòa án làm việc từ chối đưa ra ý kiến quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không có lý do.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa HĐXX sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành quy định của BLTTDS từ chối khai báo, tại phiên tòa vắng mặt lần hai không có lý do.
Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, Điều 166, Điều 280, Điều 288, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân D .
Buộc ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q phải có nghĩa vụ liên đới trả ông Bùi Xuân D số tiền gốc còn nợ là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Ngày 09/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện tranh chấp kiện đòi tài sản của ông Bùi Xuân D với bị đơn ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q có địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện L là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Về tố tụng: Qúa trình thụ lý giải quyết vụ án tuân theo đúng trình tự thủ tục quy định của BLTTDS, tại phiên tòa nguyên đơn ông Bùi Xuân D có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q vắng mặt lần hai không có lý do. HĐXX căn cứ các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu do ông Bùi Xuân D cung cấp thì thấy: Ngày 17/6/2017 (âm lịch) ông Bùi Xuân D với ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q có xác lập hợp đồng vay tài sản số tiền gốc là 120.000.000 đồng, thời hạn vay hẹn ngày 19/3/2018 (âm lịch) sẽ trả trả cả gốc và lãi. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp liên quan đến số tiền trên là tranh chấp kiện đòi tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Xuân D, HĐXX xét thấy: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ giấy biên nhận vay tiền mặt ngày 17/6/2017 (âm lịch) có cơ sở xác định: Ngày 17/6/2017 (âm lịch) ông Bùi Xuân D cho ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q vay số tiền gốc là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng), thời hạn vay hẹn ngày 19/3/2018 (âm lịch) sẽ trả đủ tiền gốc và lãi, lãi suất thỏa thuận trong giấy vay tiền là 0,2%/ tháng, hình thức vay tiền giao bằng tiền mặt. Nguồn tiền ông D cho vay là tiền cá nhân của ông D không liên quan đến vợ và con ông. Quá trình vay tiền xong đến hạn thanh toán như hai bên thỏa thuận ghi trong giấy vay tiền, ông D có đến đòi nhiều lần nhưng ông S, bà Q chưa trả được đồng nào tiền gốc và lãi cho ông D theo thỏa thuận giữa hai bên ghi trong giấy vay tiền. Quá trình giải quyết vụ án phía ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng phía ông S, bà Q cố tình trốn tránh nghĩa vụ thanh toán với ông D không đến Tòa án làm việc, từ chối khai báo không đưa ra ý kiến quan điểm đối với khoản nợ ông D khởi kiện.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định ngày 17/6/2017 (âm lịch) ông Bùi Xuân D với ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q có xác lập hợp đồng vay tài sản số tiền gốc là 120.000.000 đồng. HĐXX xét thấy giao dịch dân sự hợp đồng vay tiền xác lập giữa hai bên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 116 của Bộ luật dân sự năm 2015. Khi tham gia giao dịch dân sự ông D, ông S và bà Q đều có đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự năm 2015. Kể từ khi vay tiền xong đến hạn thanh toán ông D đến đòi tiền nhiều lần nhưng phía ông S, bà Q không trả được ông Dương đ nào tiền gốc và lãi theo thỏa thuận giữa hai bên ghi trong giấy vay tiền. Xét thấy ông S, bà Q không trả tiền đúng hạn đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông D. Nay ông Bùi Xuân D đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q có nghĩa vụ liên đới trả ông số tiền gốc còn nợ là 120.000.000 đồng. HĐXX xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân D là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 164, Điều 166, của Bộ luật dân sự năm 2015 cần chấp nhận.
*Về trách nhiệm trả tiền: Xét thấy khoản tiền vay của ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q vay của ông Bùi Xuân D 17/6/2017 (âm lịch) phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Bùi Xuân D và bà Nguyễn Thị H. Lời khai phía bà H xác định đây là khoản tiền riêng của ông D cho ông S và bà Q vay không liên quan đến bà và các con, bà H đề nghị Tòa án không đưa bà vào tham gia tố tụng trong vụ án.
Xét khoản tiền vợ chồng ông S, bà Q đã vay của ông D, mục đích vay tiền để làm vốn phát triển kinh tế chung trong gia đình, việc vay tiền cả ông S và bà Q cùng tự nguyện ký vào giấy vay tiền. Do vậy cần buộc ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q phải có trách nhiệm liên đới trả khoản nợ chung của vợ chồng là 120.000.000 đồng cho ông Bùi Xuân D là phù hợp với Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình.
*Về tiền lãi: Ông Bùi Xuân D không yêu cầu Tòa án giải quyết về tiền lãi, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân D được chấp nhận, nên ông D không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông Bùi Xuân D số tiền 4.230.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm ba mươi nghìn đồng) ngày 09/11/2023 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lại thu số 0007472 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Buộc ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q phải chịu 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[6] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, Điều 166, Điều 280, Điều 288, Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân D.
Buộc ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q phải có nghĩa vụ liên đới trả ông Bùi Xuân D số tiền gốc còn nợ là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí: Ông Bùi Xuân D không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông Bùi Xuân D số tiền 4.230.000 đồng ( Bốn triệu, hai trăm ba mươi nghìn đồng) ngày 09/11/2023 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lại thu số 0007472 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Buộc ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị Q phải chịu 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3.Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 29/2024/DS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 29/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông D, ông S
