Hệ thống pháp luật
1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HSST

Ngày 12 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Thanh

- Bà Ngô Thị Thanh Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thơ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST - HS ngày 18 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 27/2024/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thành L. Giới tính: Nam; Sinh ngày 07/3/1985; HKTT: Số 27/5 Tổ dân phố Ph, Phường H, Quận H, TP. H; Nơi ở: Số 45/10/5B Tổ dân phố Ph, Phường H, Quận H, TP. H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ văn hóa: lớp 9/12; Con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1957 và con bà: Dương Hồng V, sinh năm 1959; Gia đình có 02 anh em. Bị cáo là thứ nhất; Vợ: Chu Thị Th, sinh năm 1981; Bị cáo có 02 con. Tiền sự: Chưa có;

Tiền án: - Bản án số 93/2007/HSST, ngày 30/11/2007 của Tòa án nhân dân Quận H, TP. H, Nguyễn Thành L bị xử phạt 18 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; truy thu số tiền 6.500.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2009; Đến nay chưa chấp hành xong khoản tiền truy thu;

- Bản án số 04/2021/HSST, ngày 09/3/2021 của Tòa án nhân dân quận D, TP. H, Nguyễn Thành L bị xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại Bản án số 95/2021/HSST, ngày 06/9/2021, của Tòa án nhân dân quận L, TP. H Nguyễn Thành L bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp với 12 tháng tù của Bản án số 04/2021/HSST ngày 09/3/2021 của Tòa án nhân dân quận D, TP. H, Nguyễn Thành L pH chấp hành hình phạt chung là 36 tháng tù. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/10/2023.

2

Nhân thân: Bản án số 165/2009/HSST ngày 16/11/2009, Nguyễn Thành L bị Tòa án nhân dân huyện Th, TP. H xử phạt 24 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ. Chấp hành xong bản án ngày 11/5/2011.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1971;

Trú tại: Thôn L, xã X, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

Ông Nguyễn Đức Huy, sinh năm 1977

Trú tại: Thôn L, xã X, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/12/2023, Nguyễn Thành L, sinh năm 1985, ở số nhà 27/5 Tổ dân phố Ph, Phường H, Quận H, TP. H vào trong Cửa hàng điện nước H Ngần ở thôn L, xã X, huyện Y, tỉnh Hưng Yên của gia đình ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1971, có HKTT tại thôn L, xã X, huyện Y, tỉnh Hưng Yên lén lút trộm cắp 02 cuộn dây điện nhãn hiệu SINO loại VCTFK - Dẹt 2C x 2.5mm² đều có chiều dài 100m, thì bị phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng đã qua sử dụng có số Imei 353555/08/606636/8, bên trong có lắp 01 thẻ Sim Viettel có dãy số 8984048000923716835.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thành L đã khai nhận: Vào buổi sáng ngày 03/12/2023, Nguyễn Thành L đã gặp và rủ Nguyễn H, sinh năm 1980, thường trú ở số 8 Đ, phường Th, Quận H, TP. H đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, H đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA GRAVITA sơn màu đen trắng của H (L không nhớ BKS) chở L ngồi phía sau đi trên các tuyến đường từ TP. H ra Quốc lộ 5 đi H Dương đến Hưng Yên tìm cửa hàng nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khi đến Ngã tư Ph, thị trấn B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, L bảo H điều khiển xe đi vào tuyến đường 380 theo chiều Phố Nối đi thành phố H. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi H chở L đến trước Cửa hàng điện nước H Ngần ở thôn L, xã X, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, L bảo H điều khiển xe đi chậm và quay đi quay lại nhiều lần trước cửa hàng để tìm thời cơ thích hợp trộm cắp tài sản. Khi thấy không có người ở trong cửa hàng, H đã dừng xe lại chờ ở phía trước Cửa hàng H Ngân để L xuống xe đi bộ vào trong Cửa hàng H Ngần dùng 02 tay lấy 02 cuộn dây điện nhãn hiệu SINO loại VCTFK - Dẹt 2C x 2.5mm², dài 100m trên kệ để đồ phía bên phải (theo chiều đi từ ngoài vào bên trong Cửa hàng) rồi nhanh chóng chạy ra chỗ H đã dừng xe chờ sẵn để cùng nhau tẩu thoát. Đúng lúc này, ông Nguyễn Đức H là chủ cửa hàng phát hiện liền tri hô và cùng quần chúng nhân dân bắt giữ được L cùng 02 cuộn dây điện mà L vừa lấy trộm được, riêng Nguyễn H lợi dụng sơ hở đã điều khiển xe chạy thoát.

Tại Kết luận định giá tài sản tài sản số 46/KL-ĐG ngày 08/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: 02 cuộn dân điện nhãn

3

hiệu SINO loại VCTFK, dẹt 2C x 2,5mm2 đều có chiều dài 100m, có tổng giá trị là 2.900.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã quyết định truy tìm đối với Nguyễn H, đến nay chưa làm việc được với H; Kết quả điều tra, chưa đủ cơ sở xác định H cùng L trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định tách vụ án hình sự, để tiếp tục điều tra làm rõ, xem xét xử lý sau.

Về vật chứng: Ngày 13/12/2023, Cơ quan điều tra đã ông Nguyễn Đức H 02 cuộn dây điện.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng đã qua sử dụng có số Imei 353555/08/606636/8, bên trong có lắp 01 thẻ Sim Viettel có dãy số 8984048000923716835 thu giữ của Nguyễn Thành L, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Đức H không đề nghị giải quyết.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thành L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKS-YM ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, xin hưởng mức hình phạt thấp nhất và đề nghị HĐXX cho bị cáo xin lại chiếc điện thoại đã bị thu giữ.
  • - Đại diện VKSND huyện Y luận tội và đề xuất quan điểm như sau: Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
    • +Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
    • +Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 03/12/2023.
    • + Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
    • + Về xử lý vật chứng: Trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng đã qua sử dụng có số Imei 353555/08/606636/8, bên trong có lắp 01 thẻ Sim Viettel có dãy số 8984048000923716835 đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Thành L
  • Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại được tài sản trộm cắp và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành

4

vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và Đại diện Viện kiểm sát huyện Y đều đề nghị tiếp tục xét xử vắng mặt người bị hại, người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Người bị hại, người làm chứng vắng mặt đã có đầy đủ lời khai, thể hiện rõ quan điểm nên sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng tới việc xét xử bị cáo. Vì vậy, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, bản kết luận giám định cùng các tài liệu có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở xác định:

Do cần tiền tiêu nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/12/2023 Nguyễn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA GRAVITA sơn màu đen trắng của Hưng chở bị cáo Nguyễn Thành L đi từ TP. H đến Cửa hàng điện nước Hải Ngần của ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1971 ở thôn L, xã X, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Hưng dừng xe chờ ở phía trước Cửa hàng Hải Ngân để bị cáo L xuống xe đi bộ vào trong Cửa hàng Hải Ngần lấy trộm 02 cuộn dây điện nhãn hiệu SINO loại VCTFK - Dẹt 2C x 2.5mm² đều có chiều dài 100m trị giá 2.900.000 đồng. Tại Bản án số 95/2021/HSST ngày 06/9/2021 của Tòa án nhân dân quận L, TP. H, bị cáo L bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Nên bị cáo L phải chịu tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị không lớn, đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Sau khi cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đáp ứng được yêu cầu phòng chống tội phạm nói chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

5

[6] Về vật chứng: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng đã qua sử dụng có số Imei 353555/08/606636/8, bên trong có lắp 01 thẻ Sim Viettel có dãy số 8984048000923716835 thu giữ của bị cáo L không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo L.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 03 ( Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 03/12/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  4. Về vật chứng: Trả lại bị cáo Nguyễn Thành L chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng đã qua sử dụng có số Imei 353555/08/606636/8, bên trong có lắp 01 thẻ Sim Viettel có dãy số 8984048000923716835. (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/4/2024 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y)
  5. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
  6. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - VKSND huyện Y;
  • - TAND + VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Y;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Y;
  • - Chi cục THADS huyện Y;
  • - UBND Phường H;
  • - Sở tư pháp; Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Tuyên

6
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HSST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 29/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Long Điều 173
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger