|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày 11-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Trương Ngọc Nhân
Bà: Cao Thị Thu Ngà
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Bị cáo: Nguyễn Văn N. Tên gọi khác: Không có tên gọi khác. Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/04/1980 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT: Xóm V, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không tôn giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Bố: Nguyễn Văn M, sinh năm 1951 và mẹ: Đàm Thị X, sinh năm 1949; Anh chị em ruột gồm có 06 người, N là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Thái Thị T, sinh năm 1987. Và con: 02 đứa; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 20/04/2024 đến ngày 26/04/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/3/2024, Nguyễn Văn N xuất cảnh từ Cửa khẩu quốc tế C sang Thái Lan để làm việc tại xưởng trồng cây ở tỉnh ChaiyYaphum, nước Thái Lan. Trong thời gian làm việc tại đây, N có vài lần sử dụng ma túy với một vài người Thái Lan không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Đến khoảng 20 giờ ngày 19/4/2024, N được một người đàn ông Thái Lan (không rõ tên, tuổi) cho 19 viên ma túy hồng phiến để sử dụng, sau khi nhận được số ma túy N dùng mảnh nilon màu trắng gói lại rồi bỏ vào bao thuốc lá cất giấu vào trong túi quần đang mặc. Đến 23 giờ 10 phút cùng ngày, N đón xe khách Đức Thắng chạy tuyến V - Thái Lan để về Việt Nam. Khi lên xe khách Nin tháo đôi giày thể thao mà mình đang mang, lấy số ma túy từ trong túi quần đang mặc cất giấu vào trong chiếc giày thể thao bên phải và để gần chỗ nằm của mình. Lúc 13 giờ 00 ngày 20/4/2024, khi xe chạy đến cửa khẩu quốc tế C thì lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện trong chiếc giầy thể thao màu trắng, nhãn hiệu SKL LONG SPORT FASHION có 19 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược. Nguyễn Văn N khai nhận số ma túy là do N bỏ vào nhằm cất giấu để sử dụng cá nhân. Lực lượng chức năng đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong tang vật theo quy định.
Tiến hành khám xét khẩn cấp phương tiện xe khách BKS Lào UN 2769 không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì.
Tại Kết luận giám định số 485/KL-KTHS ngày 23/04/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A1 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,64 gam.
Mẫu ký hiệu A2 không phải là chất ma túy, khối lượng 0,084 gam.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tạm giữ gồm:
- Số ma túy sau giám định được bỏ vào trong một phong bì thư rồi dán kín, trên ghi nội dung “485/KL-KTHS”, niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
- Một đôi giày thể thao màu trắng, nhãn hiệu SKL LONG SPORT FASHION.
- Một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu in chữ nước ngoài SEA BIRD màu vàng nhạt bên trong gói thuốc có 01 mảnh nilon màu trắng.
- Một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu redmi màu xanh, số IMEL 1: 862763064288061; số IMEL 2: 862763064288079.
5. Một hộ chiếu số P02892810 mang tên Nguyễn Văn N.
Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hoá theo quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSMH ngày 19 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Văn N thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 18 (Mười tám) đến 24 (hai tư) tháng tù và xử lý vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và chứng cứ trong hồ sơ vụ án: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Vào lúc 13 giờ 00 ngày 27/03/2024, tại khu vực cửa khẩu quốc tế C, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình bị cáo Nguyễn Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,64 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cá nhân thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt giữ.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xem xét khi kết tội bị cáo.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, ma tuý là chất gây nghiện. Một khi đã sử dụng thì khó có thể từ bỏ được. Tệ nạn ma túy được xem là nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe, suy thoái nòi giống; làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng.
Về tình tiết tăng nặng: không
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như trước phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo. Bố của bị cáo là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; Quá trình hoạt động tại địa phương bị cáo tích cực trong kêu gọi ủng hộ xây dựng quê hương và trợ giúp cho những đối tượng bị tàn tật được UBND xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An xác nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Về hình phạt bổ sung, xét bị cáo thuộc thành phần lao động tự do, làm thuê kiếm sống, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm của người liên quan: Bị cáo khai, lượng ma túy bị thu giữ được người đàn ông là mặt ở nước Thái Lan tặng để sử dụng, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ. Do chưa xác định được họ tên, địa chỉ của người đàn ông lạ mặt bán ma túy cho bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M không có cơ sở để điều tra, xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo N là vật cấm lưu hành và một đôi giày thể thao màu trắng, nhãn hiệu SKL LONG SPORT FASHION; một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu in chữ nước ngoài SEA BIRD màu vàng nhạt bên trong gói thuốc có 01 mảnh nilon màu trắng là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng. Vì vậy, tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với các vật chứng là 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu redmi màu xanh, số IMEL 1: 862763064288061; số IMEL 2: 862763064288079; 01 hộ chiếu số P02892810 mang tên Nguyễn Văn N là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo N là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn N 18 ( Mười tám) tháng tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ, ngày 20/4/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn N 45 ngày theo quyết định của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a, c khoản 2; điểm b, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy sau giám định được bỏ vào trong một phong bì thư rồi dán kín, trên ghi nội dung “485/KL-KTHS”, niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt; 01 (một) đôi giày thể thao màu trắng, nhãn hiệu SKL LONG SPORT FASHION; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu in chữ nước ngoài SEA BIRD màu vàng nhạt bên trong gói thuốc có 01 mảnh nilon màu trắng.
Trả lại cho bị cáo các vật chứng sau: 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu redmi màu xanh, số IMEL 1: 862763064288061; số IMEL 2: 862763064288079 và 01 hộ chiếu số P02892810 mang tên Nguyễn Văn N.
Số vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/7/2024) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quốc Hoàn |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy
