|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/DS-PT Ngày: 11-01-2024 V/v tranh chấp hợp đồng hợp tác và hợp đồng vay tài sản. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những
Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 03 tháng 01 và ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 375/2023/TLPT-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng hợp tác và hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2023/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 718/2023/QĐ-PT ngày 10 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Trương Hùng C, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Số C, đường N, khu phố T, thị Trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Văn P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L.
-
Bị đơn: Ông Bùi Đức Huỳnh P1, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Số A, ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H2
Người đại diện theo pháp luật là: Ông Huỳnh Văn D - Chức vụ: Giám đốc.
Địa chỉ trụ sở: Tỉnh lộ 833, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H2
- Người kháng cáo: Ông Trương Hùng C, ông Bùi Đức Huỳnh P1.
(Ông C, ông P1, Luật sư P có mặt;
Các đương sự còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/8/2022 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 22/12/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Trương Hùng C trình bày các yêu cầu khởi kiện như sau:
Ông và ông P1 có thỏa thuận miệng về việc cho ông P1 vay tiền nên vào ngày 22/9/2016 ông có chuyển tiền từ tài khoản số [...] của ông mở tại Ngân hàng S vào số tài khoản của ông Bùi Đức Huỳnh P1 là 070038539432 mở tại Ngân hàng S với số tiền là 500.000.000 đồng. Việc vay tiền này, ông và ông P1 thỏa thuận miệng lãi suất 01%/tháng, tiền lãi được trả theo hàng tháng. Đến tháng 01 năm 2017, ông và ông P1 xảy ra mâu thuẫn với nhau nên ông P1 cũng không trả tiền lãi và trả tiền vốn lại cho ông. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông Bùi Đức Huỳnh P1 phải trả cho ông C1 số tiền nợ vay 500.000.000 đồng và số tiền lãi 67 tháng tính từ ngày 22/9/2016 là 500.000.000 đồng x 1%/tháng x 67 tháng = 335.000.000 đồng. Tổng cộng tiền nợ gốc và tiền lãi là 835.000.000 đồng (T trăm ba mươi lăm triệu đồng).
Ngoài ra, ông và ông P1 có hùn vốn làm ăn vụ mùa, mua lúa tại 03 tỉnh Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng cùng với ông Nguyễn Thanh H (nơi ở của ông H) về tiến hành sấy, xay rồi bán. Ông và ông P1 thoả thuận tiền lãi sẽ chia đôi, nếu thua lỗ cùng nhau chịu và phân công việc là ông sẽ là người giữ tiền cho ông P1 đi mua lúa ở các tỉnh như Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng. Sau đó, ông nhận lúa chuyển về, tiến hành sấy, xay rồi bán. Trong vụ Đông Xuân năm 2016, sau khi trừ hết các khoản chi phí thì có lợi nhuận là 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng). Sau đó, ông và ông P1 tiếp tục hợp tác trong vụ Hè Thu năm 2016 nhưng do làm ăn không thuận lợi nên trong vụ H1 Thu năm 2016 đã thua lỗ số tiền là 2.503.886.800 đồng (Hai tỷ năm trăm lẻ ba triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn tám trăm đồng). Tại thời điểm đó, do ông là người giữ tiền nên ông đã khấu trừ tiền lợi nhuận của vụ Đông Xuân 2016 sang vụ Hè Thu 2016 nên ông tính tổng số tiền thua lỗ là 2.503.886.800 đồng – 800.000.000 đồng = 1.703.886.800 đồng (Một tỷ bảy trăm lẻ ba triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn tám trăm đồng) nên ông chỉ yêu cầu chia tiền thua lỗ mỗi người là 851.943.400 đồng (T trăm năm mươi mốt triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn bốn trăm đồng). Theo Bản án sơ thẩm số 12/2022/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ và Bản án phúc thẩm số 175/2022/DS-PT ngày 20 tháng 7 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Long An không giải quyết theo hướng gộp tiền lợi nhuận vụ Đông Xuân 2016 khấu trừ sang tiền thua lỗ vụ Hè Thu 2016 mà tách rời giữa việc phân chia lợi nhuận và phân chia tiền thua lỗ dẫn tới xác định tiền thua lỗ mỗi người phải chịu là 1.251.943.400 đồng (Một tỷ hai trăm năm mươi mốt triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn bốn trăm đồng) vượt quá yêu cầu phản tố ban đầu của ông là 851.943.400 đồng (T trăm năm mươi mốt triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn bốn trăm đồng) nên Bản án phúc thẩm số 175/2022/DS-PT ngày 20 tháng 7 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Long An chỉ chấp nhận số tiền theo yêu cầu phản tố của ông là 851.943.400 đồng (T trăm năm mươi mốt triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn bốn trăm đồng).
Nay ông yêu cầu ông Bùi Đức Huỳnh P1 trả lại cho ông số tiền thua lỗ thực tế còn lại của vụ lúa Hè Thu năm 2016 là 1.251.943.400 đồng - 851.943.400 đồng = 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Bị đơn là ông Bùi Đức Huỳnh P1 (có yêu cầu phản tố) trình bày:
Vào ngày 23/11/2015 và ngày 05/6/2016, ông có hùn vốn đầu tư giống lúa theo Hợp đồng đầu tư giống lúa RVT cùng Doanh nghiệp vật tư nông nghiệp T và các câu lạc bộ và Hợp đồng đầu tư giống lúa RVT, N cùng Doanh nghiệp vật tư nông nghiệp T và các câu lạc bộ. Quá trình giải quyết, Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ đã xét xử là ông có hùn vốn đầu tư trong vụ Hè Thu năm 2016. Vào lúc 16 giờ 32 phút 17 giây, ngày 22/9/2016, ông C có chuyển khoản cho ông số tiền 500.000.000 đồng. Sau đó, ông rút tiền và chuyển đưa cho ông Nguyễn Thanh H (là người hợp đồng đầu tư bao tiêu) số tiền 500.000.000 đồng là người ông C quyết toán tiền lúa. Vào lúc 15 giờ 56 phút 20 giây, ngày 23/9/2016, ông C đã quyết toán số tiền 500.000.000 đồng cho ông H là số tiền ông đã ứng cho ông H vào ngày 22/9/2016 ông C đã chuyển cho ông. Cùng ngày 22/9/2016, thời điểm này ông đang ở Sóc Trăng – Bạc Liêu cân lúa cùng với ông H chuyển lúa về cho ông C.
Nay ông C khởi kiện yêu cầu ông trả cho số tiền nợ vay 500.000.000 đồng và số tiền lãi 67 tháng tính từ ngày 22/9/2016 là 500.000.000 đồng x 1%/tháng x 67 tháng = 335.000.000 đồng. Tổng cộng tiền nợ gốc và tiền lãi là 835.000.000 đồng (T trăm ba mươi lăm triệu đồng) và yêu cầu ông trả lại cho ông C số tiền thua lỗ thực tế của vụ Hè Thu năm 2016 là 1.251.943.400 đồng - 851.943.400 đồng = 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), ông không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hùng C.
Ngoài ra, ông có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hùng C như sau:
Ngày 15/7/2014, ông Trương Hùng C có mượn ông số là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), theo thỏa thuận miệng lãi suất 01%/tháng, số tiền lãi ông C trả cho ông là 01 tháng, 02 tháng hoặc 03 tháng 1 lần, tùy theo tình hình tài chính của ông C. Đến tháng 8 năm 2017, ông và ông C có tranh chấp hợp đồng hợp tác làm ăn với nhau cũng là lúc ông C không trả lãi. Số tiền ông C mượn của ông, ông C có viết cho ông biên nhận ghi ngày 15/7/2014. Nay ông yêu cầu ông C trả cho ông số tiền vay còn nợ là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
Ngày 23/11/2015 và ngày 05/6/2016, ông và ông Trương Hùng C cùng Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H3 hợp đồng hợp tác giống lúa RVT và N cùng các hộ dân do ông Nguyễn Thanh H là chủ doanh nghiệp làm đại diện. Ngày 04/3/2022, Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ xét xử vụ Đông Xuân 2016 lợi nhuận mỗi người được hưởng là 400.000.000 đồng và xét xử vụ Hè Thu 2016 buộc ông chia lỗ cùng ông cường số tiền là 851.913.000 đồng nhưng ông C không quyết toán chia lãi tiền bán lúa giống RVT và N cho ông, trong vụ Hè Thu năm 2016.
Số lượng bán lúa giống cho ông Nguyễn Thanh H là :
- RVT: 131.000kg x 14.000 đồng = 1.834.000.000 đồng;
- Nếp: 90.240kg x 14.000 đồng = 1.263.360.000 đồng;
- Tổng cộng là: 3.097. 360.000 đồng;
Trong khi đó, lượng lúa giống ông đã chọn lựa sấy và đóng bao. Sau đó, ông và ông C định giá lúa giống có lãi là:
- RVT: 131.000kg x 9.000 đồng = 1.179.000.000 đồng;
- Nếp: 90.240kg x 11.000 đồng = 992.640.000 đồng;
- Tổng cộng là: 2.171.640.000 đồng;
Như vậy, lợi nhuận tổng 02 loại lúa: 3.097.360.000 đồng - 2.171.640.000 đồng = 925.720.000 đồng (Chín trăm hai mươi lăm triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng), mỗi người được hưởng tiền lãi (lợi nhuận) là 925.720.000 đồng : 2 = 462.860.000 đồng. Nay ông yêu cầu ông Trương Hùng C chia lợi nhuận cho ông số tiền lãi (lợi nhuận) vụ Hè Thu 2016 đối với giống RVT và N là 462.860.000₫ (theo nội dung bản tường trình ngày 22/3/2023).
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H4 do ông Huỳnh Văn D làm đại diện là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có văn bản ý kiến:
Việc tranh chấp giao nhận tiền và giao nhận lúa là việc tranh chấp riêng của ông Bùi Đức Huỳnh P1 và ông Trương Hùng C và xin vắng mặt tại các phiên họp công khai chứng cứ, các buổi hòa giải, đối chất và đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 13/3/2023 và ngày 13/8/2023, ông Nguyễn Thanh H có ý kiến:
Đối với các yêu cầu khởi kiện của ông P1 và ông C thì ông không có ý kiến gì. Ông vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày của ông tại văn bản ngày 18/10/2017 và bảng tường trình ngày 17/01/2022. Đồng thời, xác định tại bút lục 128 của Tòa án là ông có ứng số tiền 200.000.000 đồng ứng vào ngày 12/9/2016 không phải ứng ngày 22/6/2016. Ngày 23/9/2016, ông có nhận số tiền 275.341.000 đồng từ ông C còn việc ghi chú nội dung chuyển khoản DA CHUYEN 22.9 thì ông không biết rõ; Ông có nhận tiền của ông P1 hai lần vào cùng ngày 02/7/2016 mỗi lần ứng số tiền 200.000.000 đồng và 300.000.000 đồng; Khi nhận tiền của ông P1 thì ông có làm biên nhận cho ông P1. Số tiền này ông nhận tiền lúa của ông P1. Xem xét lại thì ngày 22/9/2016 ông không có nhận tiền của ông P1 và ông C. Bút lục 128 thực chất là ngày ông ứng tiền của ông C là ngày 12/9/2016 không phải ngày 22/9/2016; số tiền ứng ngày 12/9/2016 là 200.000.000 đồng, không phải là 500.000.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2023/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An đã căn cứ các Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 483 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 504, Điều 507, Điều 508, Điều 509, Điều 510, Điều 357, Điều 468, Điều 463, Điều 466, Điều 469 của Bộ luật dân sự; Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hùng C về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp tác” đối với ông Bùi Đức Huỳnh P1.
Buộc ông Bùi Đức Huỳnh P1 có trách nhiệm trả lại cho ông Trương Hùng C khoản tiền chia lỗ thực tế còn lại của vụ lúa Hè Thu năm 2016 là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hùng C về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với ông Bùi Đức Huỳnh P1 đối với số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) chuyển khoản vào ngày 22/9/2016 và tiền lãi yêu cầu là 335.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi lăm triệu đồng).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của ông Bùi Đức Huỳnh P1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với ông Trương Hùng C.
Buộc ông Trương Hùng C phải trả cho ông Bùi Đức Huỳnh P1 số tiền vay còn nợ là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của ông Bùi Đức Huỳnh P1 “Tranh chấp hợp đồng hợp tác” với ông Trương Hùng C về việc chia tiền lãi vụ Hè Thu năm 2016 đối với giống RVT và N là 462.860.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi hai triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc ông Trương Hùng C phải chịu 61.050.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước nhưng được khấu trừ vào các số tiền tạm ứng án phí mà ông C đã nộp là 18.525.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án, phí lệ phí số 0006244 ngày 17/10/2022 và 10.000.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ, phí số 0006378 ngày 02/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Ông Trương Hùng C phải nộp tiếp tiền án phí là 32.525.000 đồng (Ba mươi hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- Buộc ông Bùi Đức Huỳnh P1 phải chịu 45.514.400 đồng (Bốn mươi lăm triệu năm trăm mười bốn nghìn bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước nhưng được khấu trừ vào các số tiền tạm ứng án phí mà ông P1 đã nộp là 12.000.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0006382 ngày 07/02/2023 và 11.257.200 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0006381 ngày 07/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Ông Bùi Đức Huỳnh P1 phải nộp tiếp tiền án phí là 22.257.200 đồng (Hai mươi hai triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn hai trăm đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn về quyền và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.
Ngày 20/9/2023 ông Trương Hùng C kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, buộc ông P1 phải trả số tiền vay 500.000.000 đồng vào ngày 22/9/2016 và tiền lãi là 335.000.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông P1 đối với số tiền vay 500.000.000 đồng.
Ngày 19/9/2023 ông Bùi Đức Huỳnh P1 kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu của ông C đối với số tiền chia lỗ vụ Hè Thu năm 2016 là 400.000.000 đồng, chấp nhận yêu cầu của ông đối với số tiền chia lãi vụ Hè Thu năm 2016 đối với giống RVT và N là 462.860.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Các đương sự không rút đơn khởi kiện, đơn phản tố, không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Ông Trương Hùng C là nguyên đơn trình bày: Đối với số tiền 500.000.000 ông P1 cho ông vay vào ngày 15/7/2014, ông đã chuyển khoản trả cho ông P1 vào ngày 02/7/2016. Sau khi trả xong, ngày 22/9/2016 ông có ông P1 vay số tiền 500.000.000 đồng, ông chuyển tiền vào số tài khoản của ông Bùi Đức Huỳnh P1. Ông đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông sửa bản án dân sự sơ thẩm, ông P1 phải trả cho ông tiền vay 500.000.000 đồng và tiền lãi là 335.000.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu của ông P1 đối với số tiền vay 500.000.000 đồng.
Ông Bùi Đức Huỳnh P1 là bị đơn trình bày: Số tiền 500.000.000 ông C chuyển cho ông vào ngày 02/7/2016 là chuyển tiền hợp tác mua lúa, ông đã đưa số tiền này cho ông H, không phải trả tiền vay. Ông không có vay 500.000.000 đồng của ông C vào ngày 22/9/2016, tiền nay là tiền ông C chuyển cho ông để ông chuyển tiền thu mua lúa cho ông H. Ông đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông sửa bản án dân sự sơ thẩm, ông C phải chia lãi vụ Hè Thu năm 2016 đối với giống RVT và N cho ông với số tiền là 462.860.000 đồng, ông không chấp nhận yêu cầu của ông C đối với số tiền chia lỗ 400.000.000 đồng.
Luật sư Trần Văn P trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của nguyên đơn. Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, yêu cầu khởi kiện của ông C là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông C, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của ông Trương Hùng C, ông Bùi Đức Huỳnh P1 đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Về yêu cầu kháng cáo của ông Trương Hùng C, ông Bùi Đức Huỳnh P1:
Nội dung kháng cáo:
Ngày 19/9/2023, ông Bùi Đức Huỳnh P1 kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm cải sửa một phần bản án sơ thẩm về số tiền chia lỗ vụ lúa Hè Thu năm 2016 là 400.000.000 đồng và số tiền chia lãi vụ lúa Hè Thu năm 2016 đối với giống RVT và N là 462.860.000 đồng.
Ngày 20/9/2023, ông Trương Hùng C kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm cải sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc ông Bùi Đức Huỳnh P1 phải trả lại số tiền 500.000.000 đồng mượn ngày 22/9/2016 và số tiền lãi theo yêu cầu của ông là 335.000.000 đồng; không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Bùi Đức Huỳnh P1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với ông Trương Hùng C, buộc ông C trả cho ông P1 số tiền là 500.000.000 đồng.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xét kháng cáo của ông Trương Hùng C, ông Bùi Đức Huỳnh P1, thấy rằng:
- Về việc giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng hợp tác: Ông C và ông P1 đều thống nhất có hùn vốn làm ăn vụ mùa, mua lúa tại 03 tỉnh Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng thông qua ông Nguyễn Thanh H về tiến hành sấy, xay rồi bán. Ông và ông P1 thoả thuận tiền lãi sẽ chia đôi, nếu thua lỗ cùng nhau chịu và phân công việc là ông C sẽ là người giữ tiền đưa cho ông P1 đi mua lúa ở các tỉnh như Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng. Sau đó, ông C nhận lúa chuyển về, tiến hành sấy, xay rồi bán.
Xét thấy, tại Bản án sơ thẩm số 12/2022/DS-ST ngày 04/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ và Bản án phúc thẩm số 175/2022/DS-PT ngày 20/7/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Long An thì các đương sự đều xác định sau khi tổng kết quyết toán toàn bộ các chi phí đầu tư giống và các chi phí khác trong quá trình thu mua, vận chuyển lúa thì vụ Đông Xuân năm 2016 lợi nhuận 800.000.000 đồng, vụ Hè Thu năm 2016 thua lỗ 2.503.886.800 đồng. Phần lợi nhuận trong vụ Đông X là 800.000.000 đồng sau khi trừ 20.000.000 đồng ông P1 trả cho ông T1 còn lại 780.000.000 đồng, mỗi bên được chia là 780.000.000/2= 390.000.000 đồng. Còn phần tiền lỗ trong vụ Hè T2 là 2.503.886.800 đồng, mỗi bên chịu 2.503.886.800 đồng/2= 1.251.943.400 đồng nhưng trong vụ án trên ông C chỉ tranh chấp yêu cầu đối với số tiền 851.943.400 đồng, còn lại số tiền 1.251.943.400 đồng - 851.943.400 đồng = 400.000.000 đồng chưa được Tòa án giải quyết nên ông C tiếp tục tranh chấp yêu cầu là phù hợp. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông C, buộc ông P1 phải trả tiếp số tiền 400.000.000 đồng chia lỗ của vụ Hè T2 là có cơ sở. Do trong vụ Hè Thu năm 2016 hoàn toàn lỗ chứ không có lãi như ông P1 trình bày nên Tòa án không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông P1 về việc chia lợi nhuận là có căn cứ.
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Bùi Đức Huỳnh P1 là không có cơ sở chấp nhận.
- Về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản:
+ Đối với khoản tiền 500.000.000 đồng ông Bùi Đức Huỳnh P1 cho ông Trương Hùng C vay theo tờ giấy biên nhận ghi ngày 15/7/2014: Ông C thống nhất thừa nhận chữ viết và chữ ký trên tờ giấy Biên nhận ghi ngày 15/7/2014 là của ông C và xác định đây là khoản tiền mà ông C vay của ông P1 nhưng ông C cho rằng số tiền này ông đã chuyển khoản trả cho ông P1 vào ngày 02/7/2016. Tuy nhiên, nội dung chuyển khoản này không thể hiện là trả tiền vay, đồng thời ông P1 cũng không thừa nhận. Ông P1 cho rằng số tiền 500.000.000 đồng mà ông C chuyển cho ông P1 vào ngày 02/7/2016 là để trả tiền mua lúa cho ông H và ông P1 có cung cấp tờ giấy ghi "Xạ trại 2016" trong đó có thể hiện nội dung là ngày 02/7/2016 ông H ứng của ông P1 02 lần, lần 1 số tiền 300.000.000 đồng, lần 2 số tiền 200.000.000 đồng, tổng cộng số tiền 500.000.000 đồng và mỗi lần ứng tiền đều có chữ ký xác nhận của ông H. Đối chiếu qua các biên bản lấy lời khai ngày 11/11/2019 và ngày 13/8/2023 ông H đều xác định ông H có nhận tiền của ông P1 02 lần số tiền vào ngày 02/7/2016 như ông P1 trình bày và có làm biên nhận cho ông P1, số tiền này là tiền lúa nhận từ ông P1. Nên không có cơ sở để xác định số tiền 500.000.000 đồng mà ông C chuyển khoản cho ông P1 vào ngày 02/7/2016 là để trả khoản tiền vay theo biên nhận ngày 15/7/2014 cho ông P1 như ông C trình bày. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của ông P1, buộc ông C trả cho ông P1 số tiền vay 500.000.000 đồng theo tờ giấy biên nhận ghi ngày 15/7/2014 là có căn cứ.
+ Đối với khoản tiền 500.000.000 đồng ông Trương Hùng C chuyển khoản cho ông Bùi Đức Huỳnh P1 vào ngày 22/9/2016: Ông C cho rằng số tiền này là chuyển cho ông P1 vay nhưng ông P1 không thừa nhận có vay tiền của ông C vì cho rằng đây là tiền ông C chuyển khoản cho ông để ứng tiền lúa cho ông H. Xét thấy, việc ông C chuyển khoản cho ông P1 500.000.000 đồng vào ngày 22/9/2016 nhưng không có ghi nội dung chuyển khoản và xác định số tiền chuyển khoản cho ông P1 là tiền cho ông P1 vay, ông C cũng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh giữa các bên có thỏa thuận vay tiền như ông C trình bày. Hơn nữa, số tiền này ông C chuyển cho ông P1 là trong thời hạn thực hiện hợp đồng hợp tác giữa ông C và ông P1, theo đó ông P1 cho rằng đây là tiền ông C chuyển cho ông P2 để trả tiền tạm ứng trước cho ông H trong việc thu mua lúa. Mặt khác, vào ngày 23/9/2016 khi ông C chuyển khoản quyết toán tiền lúa cho ông H đã ghi rõ nội dung trừ số tiền 500.000.000 đồng ngày 22/9/2016 mà ông P1 cho rằng đã ứng cho ông H thể hiện ở nội dung chuyển khoản tiền cho ông H có ghi “CT 2 XE NEP – 7 TAN 920 KG = 238.455.000 + 7 XE LUA 115 TAN 570 KG = 566.256.000 = 804.771.000 – 29.430.000 (TIEN XE) – DA CHUYEN 22.9 500TRD = 275.341.000VND” và ông H cũng thừa nhận đã nhận số tiền này của ông C. Đồng thời, như đã phân tích ở phần trên đối với khoản tiền vay 500.000.000 đồng theo tờ giấy biên nhận ghi ngày 15/7/2014 ông C chưa trả cho ông P1 nên việc ông C cho rằng số tiền 500.000.000 đồng chuyển khoản ngày 22/9/2016 là khoản tiền ông C cho ông P1 vay là không phù hợp. Nên có cơ sở để xác định ông C chuyển khoản 500.000.000 đồng cho ông P1 vào ngày 22/9/2016 nêu trên là tiền để thanh toán cho ông H chứ không phải tiền ông P1 vay của ông C, số tiền này đã được ông C khấu trừ vào tiền quyết toán với ông H. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông C đối với số tiền vay 500.000.000 đồng ngày 22/9/2016 và tiền lãi 335.000.000 đồng là có căn cứ.
Xét kháng cáo của ông Trương Hùng C là không có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích trên, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 308 BLTTDS 2015 đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Hùng C, ông Bùi Đức Huỳnh P1 và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo ông Trương Hùng C, ông Bùi Đức Huỳnh P1 thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Văn D là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH một thành viên H4 và ông Nguyễn Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
- Xét kháng cáo của ông Trương Hùng C, thấy rằng:
- Đối với yêu cầu của ông P1 yêu cầu ông C trả tiền vay 500.000.000 đồng vào ngày 15/7/2014, yêu cầu của ông P1 được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận, ông C kháng cáo không đồng ý.
- Thấy rằng, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông C thừa nhận chữ viết và chữ ký trên tờ giấy Biên nhận ghi ngày 15/7/2014 là của ông C và xác định đây là khoản tiền mà ông C vay của ông P1. Do đó, có cơ sở xác định vào ngày 15/7/2014, ông C có vay ông P1 số là 500.000.000 đồng và xác định đây là hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi.
- Ông C cho rằng đã chuyển khoản số tiền 500.000.000 đồng cho ông P1 vào ngày 02/7/2016 không có ghi nội dung chuyển khoản và xác định số tiền chuyển khoản này để trả cho khoản tiền vay của ông P1 theo biên nhận ngày 15/7/2014. Ông P1 xác định số tiền 500.000.000 đồng mà ông C chuyển cho ông P1 vào ngày 02/7/2016 là để trả tiền mua lúa cho ông H. Ông P1 có cung cấp tờ giấy ghi “Xạ trai 2016” trong đó có thể hiện nội dung là ngày 02/7/2016 ông H ứng của ông P1 02 lần, lần 1 số tiền 300.000.000 đồng, lần 2 số tiền 200.000.000 đồng, tổng cộng số tiền 500.000.000 đồng và mỗi lần ứng tiền đều có chữ ký xác nhận của ông H. Đối chiếu qua các biên bản lấy lời khai ngày 11/11/2019 và ngày 13/8/2023 ông H đều xác định ông H có nhận tiền của ông P1 02 lần số tiền vào ngày 02/7/2016 như ông P1 trình bày và có làm biên nhận cho ông P1, số tiền này là tiền lúa nhận từ ông P1. Mặt khác, các bên hợp tác thu mua lúa từ tháng 11 năm 2015 nhưng giao dịch dân sự vay tiền giữa ông P1 và ông C được xác lập năm 2014 là trước khi các bên ký hợp đồng hợp tác thu mua lúa năm 2015.
- Từ những phân tích nêu trên, ông C xác định số tiền 500.000.000 đồng mà ông C chuyển khoản cho ông P1 nhưng không có ghi nội dung chuyển vào ngày 02/7/2016 là để trả khoản tiền vay theo biên nhận ngày 15/7/2014 cho ông P1 là không có cơ sở. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông C vẫn còn nợ ông P1 số tiền vay theo biên nhận ngày 15/7/2014 là 500.000.000 đồng nên buộc ông C phải có nghĩa vụ trả lại số tiền vay 500.000.000 đồng cho ông P1 là phù hợp với quy định Điều 466, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là có căn cứ.
- Ông Trương Hùng C kháng cáo yêu cầu ông Bùi Đức Huỳnh P1 trả số tiền nợ vay 500.000.000 đồng vào ngày 22/9/2016 và số tiền lãi 335.000.000 đồng (500.000.000 đồng x 1%/tháng x 67 tháng (từ ngày 22/9/2016 đến nộp đơn khởi kiện ngày 05/8/2022)). Tổng cộng tiền nợ gốc và tiền lãi là 835.000.000 đồng.
- Thấy rằng, ngày 22/9/2016 ông C có chuyển cho ông P1 500.000.000 đồng. Ông P1 thừa nhận có nhận số tiền 500.000.000 đồng từ ông C vào ngày 22/9/2016, nhưng không phải số tiền ông P1 vay mà ông C chuyển cho ông P1 để ứng cho ông H mua lúa để chuyển về cho ông C.
- Xét thấy, việc ông C chuyển khoản cho ông P1 500.000.000 đồng vào ngày 22/9/2016 nhưng không có ghi nội dung chuyển khoản và ông C cho rằng số tiền chuyển khoản cho ông P1 là tiền cho ông P1 vay nhưng ông C cũng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh giữa các bên có thỏa thuận vay tiền. Số tiền này ông C chuyển cho ông P1 trong thời hạn thực hiện hợp đồng hợp tác giữa ông C và ông P1, theo đó ông P1 cho rằng đây là tiền ông C chuyển cho ông P2 để trả tiền tạm ứng trước cho ông H trong việc thu mua lúa là phù hợp.
- Vào ngày 23/9/2016, khi ông C chuyển khoản quyết toán tiền lúa cho ông H đã ghi rõ nội dung trừ số tiền 500.000.000 đồng ngày 22/9/2016 mà ông P1 cho rằng đã ứng cho ông H thể hiện ở nội dung chuyển khoản tiền cho ông H có ghi “CT 2 XE NEP – 7 TAN 920 KG = 238.455.000 + 7 XE LUA 115 TAN 570 KG = 566.256.000 = 804.771.000 – 29.430.000 (TIEN XE) – DA CHUYEN 22.9 500TRD = 275.341.000VND”. Như vậy khi ông C quyết toán tiền lúa cho ông H, ông C đã trừ số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 22/9/2016.
- Ông P1 không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh là đã giao số tiền 500.000.000 đồng cho ông H vào ngày 22/9/2016. Ông C cho rằng vào ngày 23/9/2016, khi ông C chuyển khoản quyết toán tiền lúa cho ông H trừ số tiền 500.000.000 đồng, số tiền này là ông đã đưa cho ông H vào ngày 22/9/2016.
- Ông C xác định mỗi lần ông H ứng tiền đều có ghi, có chữ ký tên xác nhận của ông H và xác định ngày 22/9/2016 đã giao đủ số tiền 500.000.000 đồng cho ông H thể hiện ở giấy tập có ghi “Hài ứng tiền tháng 9” (Bút lục 128).
- Theo biên nhận ngày 22/9/2016 Hài ứng 200.000.000 đồng có chữ ký xác nhận của ông H phía dưới nhưng tiếp theo đó có nội dung “+ ứng tiếp 300.000.000 đồng = 500.000.000...” nhưng lại không có chữ ký xác nhận của ông H cho số tiền ứng tiếp theo là không phù hợp. Mặt khác, ông H chỉ thừa nhận có ứng của ông C số tiền 200.000.000 đồng nhưng là vào ngày 12/9/2016 chứng không phải ngày 22/9/2016, số tiền ứng là 200.000.000 đồng không phải là 500.000.000 đồng như nội dung biên nhận ngày 22/9/2016 do ông C cung cấp và tại biên bản lấy lời khai ngày 13/8/2023, ông H đều xác nhận vào ngày 22/9/2016 thì ông H không có nhận số tiền 500.000.000 đồng của ông P1 hay là của ông C. Ngoài ra, Biên bản giao nhận tiền cho ông H ông C cung cấp cho Tòa án cho rằng đã giao cho ông H số tiền 500.000.000 đồng nhưng có sự chỉnh sửa ngày tháng nên ông C cho rằng số tiền 500.000.000 đồng ông giao cho ông H là không có căn cứ.
- Từ những phân tích trên, thấy rằng việc ông C chuyển khoản số tiền 500.000.000 đồng cho ông P1 không có ghi nội dung chuyển khoản vào ngày 22/9/2016 là việc giao tiền trong quá trình thu mua lúa giữa ông C với ông P1 là trong thời hạn thực hiện hợp đồng hợp tác. Ông C chuyển cho ông P1 để thanh toán cho ông H chứ không phải tiền ông P1 vay của ông C như lời trình bày của ông C và thực tế vào ngày 23/9/2016 khi ông C chuyển tiền quyết toán cho ông H đã khấu trừ số tiền này. Do đó, việc ông C xác định số tiền 500.000.000 đồng ngày 22/9/2016 chuyển khoản cho ông P1 là số tiền nợ vay và yêu cầu ông P1 phải trả số tiền nợ vay 500.000.000 đồng ngày 22/9/2016 và số tiền lãi 67 tháng tính từ ngày 22/9/2016 là 500.000.000 đồng x 1%/tháng x 67 tháng = 335.000.000 đồng, tổng cộng tiền nợ gốc và tiền lãi là 835.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận.
- Đối với yêu cầu của ông P1 yêu cầu ông C trả tiền vay 500.000.000 đồng vào ngày 15/7/2014, yêu cầu của ông P1 được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận, ông C kháng cáo không đồng ý.
- Xét kháng cáo của ông Bùi Đức Huỳnh P1:
- Đối với yêu cầu của ông C yêu cầu chia tiền lỗ thực tế còn lại của vụ lúa Hè Thu năm 2016 với số tiền là 400.000.000 đồng được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận, ông P1 không đồng ý.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông P1 cho rằng ngày từ ban đầu ông P1 xác định là không có hợp tác mua lúa vụ Hè Thu năm 2016 với ông C nhưng thời điểm ông P1 và ông C tranh chấp vào năm 2022, Tòa án các cấp đều xác định ông P1 có hợp tác vụ Hè Thu năm 2016 với ông C nên việc xác định tiền lỗ và yêu cầu chia lỗ của ông C thì ông P1 không có ý kiến gì và cũng không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông C.
Nhận thấy, vụ Đông Xuân năm 2016, sau khi trừ hết các khoản chi phí thì có lợi nhuận là 800.000.000 đồng. Số tiền lợi nhuận này ông C giữ. Ông C và ông P1 tiếp tục hợp tác trong vụ Hè Thu năm 2016 nhưng do làm ăn không thuận lợi nên trong vụ Hè Thu năm 2016 đã thua lỗ số tiền là 2.503.886.800 đồng. Ông C yêu cầu khấu trừ tiền lợi nhuận của vụ Đông Xuân 2016 sang số tiền thua lỗ vụ Hè Thu 2016 là 2.503.886.800 đồng - 800.000.000 đồng = 1.703.886.800 đồng, chia tiền thua lỗ mỗi người chịu là 851.943.400 đồng. Tuy nhiên Bản án sơ thẩm số 12/2022/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ và Bản án phúc thẩm số 175/2022/DS-PT ngày 20 tháng 7 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Long An không khấu trừ tiền lợi nhuận của vụ Đông Xuân 2016 vào tiền thua lỗ vụ Hè Thu 2016 mà tách riêng từng khoản để giải quyết. Theo đó, Bản án dân sự phúc thẩm số 175/2022/DS-PT ngày 20 tháng 7 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Long An có hiệu lực pháp luật đã xác định về tiền thua lỗ vụ Hè Thu 2016 là 2.503.886.800 đồng, mỗi người phải chịu là 1.251.943.400 đồng, nhưng do ông C chỉ yêu cầu ông P1 trả 851.943.400 đồng nên Bản án phúc thẩm số 175/2022/DS-PT ngày 20 tháng 7 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Long An chỉ chấp nhận số tiền theo yêu cầu của ông C buộc ông P1 trả là 851.943.400 đồng.
Nay ông C tiếp tục khởi kiện yêu cầu ông P1 trả tiền thua lỗ thực tế còn lại của vụ Hè Thu 2016 là 1.251.943.400 đồng - 851.943.400 đồng = 400.000.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận; Buộc ông P1 phải tiếp tục chia tiền lỗ thực tế còn lại của vụ lúa Hè Thu năm 2016 với số tiền là 400.000.000 đồng cho ông C là phù hợp.
- Đối với yêu cầu chia tiền lãi vụ Hè Thu năm 2016 đối với giống RVT và N là 462.860.000 đồng của ông P1 không được Tòa án chấp nhận.
Ông P1 cho rằng ông C không quyết toán chia lãi tiền bán lúa giống RVT và N cho ông P1 vụ Hè Thu 2016. Ông C xác định vụ Hè Thu năm 2016 hoàn toàn lỗ chứ không có lãi nên ông P1 yêu cầu chia lãi vụ Hè Thu năm 2016 thì ông C không đồng ý. Xét thấy, Bản án sơ thẩm số 12/2022/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ và Bản án phúc thẩm số 175/2022/DS-PT ngày 20 tháng 7 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Long An thì các đương sự đều xác định sau khi tổng kết quyết toán toàn bộ các chi phí đầu tư giống và các chi phí khác trong quá trình thu mua, vận chuyển lúa thì vụ Đông Xuân năm 2016 lợi nhuận 800.000.000 đồng, vụ Hè Thu năm 2016 thua lỗ 2.503.886.800 đồng.
Do đó, ông P1 cho rằng ông C không quyết toán chia tiền lợi nhuận vụ Hè Thu 2016 đối với giống RVT và Nếp cho ông P1 nên khởi kiện yêu cầu ông C phải chia số tiền lợi nhuận vụ Hè Thu năm 2016 ông P1 đối với giống RVT và N là 462.860.000 đồng là không có căn cứ.
- Đối với yêu cầu của ông C yêu cầu chia tiền lỗ thực tế còn lại của vụ lúa Hè Thu năm 2016 với số tiền là 400.000.000 đồng được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận, ông P1 không đồng ý.
- Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ và đúng pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Hùng C, ông Bùi Đức Huỳnh P1.
- Xét đề nghị của Luật sư không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trương Hùng C, ông Bùi Đức Huỳnh P1 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Trương Hùng C, ông Bùi Đức Huỳnh P1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Hùng C, ông Bùi Đức Huỳnh P1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 74/2023/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Căn cứ các Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 483 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 504, Điều 507, Điều 508, Điều 509, Điều 510, Điều 357, Điều 468, Điều 463, Điều 466, Điều 469 của Bộ luật dân sự; Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hùng C về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp tác” đối với ông Bùi Đức Huỳnh P1.
Buộc ông Bùi Đức Huỳnh P1 có trách nhiệm trả lại cho ông Trương Hùng C khoản tiền chia lỗ thực tế còn lại của vụ lúa Hè Thu năm 2016 là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hùng C về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với ông Bùi Đức Huỳnh P1 đối với số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) chuyển khoản vào ngày 22/9/2016 và tiền lãi yêu cầu là 335.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi lăm triệu đồng).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của ông Bùi Đức Huỳnh P1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với ông Trương Hùng C.
Buộc ông Trương Hùng C phải trả cho ông Bùi Đức Huỳnh P1 số tiền vay còn nợ là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của ông Bùi Đức Huỳnh P1 “Tranh chấp hợp đồng hợp tác” với ông Trương Hùng C về việc chia tiền lãi vụ Hè Thu năm 2016 đối với giống RVT và N là 462.860.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi hai triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc ông Trương Hùng C phải chịu 61.050.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước nhưng được khấu trừ vào các số tiền tạm ứng án phí mà ông C đã nộp là 18.525.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án, phí lệ phí số 0006244 ngày 17/10/2022 và 10.000.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ, phí số 0006378 ngày 02/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Ông Trương Hùng C phải nộp tiếp tiền án phí là 32.525.000 đồng (Ba mươi hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- Buộc ông Bùi Đức Huỳnh P1 phải chịu 45.514.400 đồng (Bốn mươi lăm triệu năm trăm mười bốn nghìn bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước nhưng được khấu trừ vào các số tiền tạm ứng án phí mà ông P1 đã nộp là 12.000.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0006382 ngày 07/02/2023 và 11.257.200 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0006381 ngày 07/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Ông Bùi Đức Huỳnh P1 phải nộp tiếp tiền án phí là 22.257.200 đồng (Hai mươi hai triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn hai trăm đồng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trương Hùng C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0005019 ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Ông Bùi Đức Huỳnh P1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0005017 ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 29/2024/DS-PT ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng hợp tác và hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 29/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác và hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng hợp tác và hợp đồng vay tài sản
