|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HS-ST
Ngày: 10/9/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Tập
Ông Vũ Như Cường
Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Bưởi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thuật - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Văn Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 02 tháng 6 năm 1982 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn Đ1 và bà Nông Thị Y; có vợ là Đinh Thị H, có 01 con; Tiền án: Không, tiền sự: 02 (ngày 19/6/2020 bị UBND xã Q ra Quyết định số 111/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; ngày 03/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 05/2020/QĐ-TA – ngày 13/7/2022 chấp hành xong), nhân thân: Bản án số 02/2015/HSST ngày 06/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông xử phạt Nông Văn Đ 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” – ngày 01/3/2019 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của Bản án, ngày 13/6/2024 Nông Văn Đ bị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo hiện đang chấp hành án phạt tù của một bản án khác, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị H – Sinh năm 1984. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 02/4/2024, tổ công tác Công an huyện B làm nhiệm vụ tại thôn T, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn phát hiện 01 (một) đối tượng nam giới, khoảng 42 tuổi, khai tên là Nông Văn Đ, sinh năm 1982, trú tại: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, màu đen xám, biển kiểm soát 97B1-752.81 theo hướng từ thôn T đi thôn N, xã Q có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi thấy tổ công tác, đối tượng có hành động thả từ tay trái của đối tượng xuống phía trước bên trái đầu xe 01 (một) gói nhỏ màu trắng. Tổ công tác đã mời người chứng kiến đến để chứng kiến sự việc. Tổ công tác tiến hành kiểm tra cụ thể tại vị trí lòng đường liên thôn phía trước đầu xe bên trái vị trí đối tượng dừng xe có 01 (một) gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng. Tiến hành thử phản ứng phát hiện nhanh chất ma túy bằng cách cho một ít chất màu trắng có trong gói nhỏ trên vào lọ dung dịch thử phản ứng phát hiện nhanh chất ma túy (loại heroin) do Bộ C sản xuất còn thời hạn sử dụng. Kết quả lọ dung dịch thuốc thử chuyển từ màu trắng trong suốt sang màu tím đỏ, trùng khớp với đặc trưng của chất ma túy, loại heroine.
Ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành cân số chất màu trắng có trong 01 gói nhỏ thu giữ của Nông Văn Đ, có khối lượng 0,105g.
Ngày 03/4/2024, CSĐT Công an huyện B tiến hành khám xét chỗ ở của Nông Văn Đ, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 128/KL- KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng trong phong bì ký hiệu “GД gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,105g (không phẩy một không năm gam).
Quá trình điều tra và truy tố, Nông Văn Đ khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1-752.81 từ thành phố B đi về nhà của Đ tại thôn N, xã Q, huyện B, khi đi đến đường rẽ vào Trung đoàn 750 thuộc tổ K, phường H, thành phố B thì gặp một người đàn ông không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể mua 01 gói ma túy với giá 100.000đ, sau khi mua được ma túy Đ cầm ở tay trái và điều khiển xe mô tô tiếp tục đi về đến xã C, Đ vào hiệu thuốc ở cạnh đường mua 01 xi lanh nhựa, 01 lọ dung dịch nhãn hiệu Novocain 3%, 01 lọ dung dịch nhãn hiệu DIMEDROL 5% đều chưa qua sử dụng rồi cất vào túi áo trước ngực bên trái điều khiển xe mô tô đi đến khu vực thôn T, xã Q, huyện B thì gặp tổ công tác của Công an huyện kiểm tra, do lo sợ Đ đã bỏ gói ma túy đang cầm ở tay trái xuống đường phía trước đầu xe đang điều khiển. Mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy của Đ là để sử dụng cho bản thân.
Vật chứng, tài sản tạm giữ trong vụ án, gồm:
- - 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “T78”, bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu “GĐ” còn lại 0,070g cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định.
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy màu trắng, phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “Đ”.
- - 01 (Một) phong bì niêm phong “Đ1” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; 01 (một) lọ dung dịch NOVOCAIN 3% và 01 (một) lọ dung dịch DIMWDROL 5% đều chưa qua sử dụng.
- - 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave màu đen xám, biển kiểm soát (BKS) 97B1-752.81; Số khung: RLHJA3805GY115115; Số máy: JA38E0282764, xe cũ, đã qua sử dụng và 01 chìa khóa xe mô tô.
- - 01 (một) phong bì niêm phong “ĐTĐ” bên trong có 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, màu đen, bàn phím cứng, cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) sim của nhà mạng Viettel, số thuê bao 0862.059.xxx cùng phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “Đ2”.
- - 01 (một) đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 752.81, mang tên đinh Thị Huyền.
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “Đ4” bên trong có 01 (một) chiếc ví màu nâu cũ, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “TĐ” bên trong có số tiền 371.000đ (ba trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
Cáo trạng số: 25/CT-VKSBT ngày 28/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Nông Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị H trình bày: Năm 2018 chị H có mua 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave màu đen xám, biển kiểm soát 97B1-752.81; đăng ký xe tên Đinh Thị H; nguồn gốc số tiền mua xe là của chị H đi lao động mà có; xe do bị cáo Đ và chị cùng sử dụng. Chị H không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô BKS 97B1-752.81 làm phương tiện đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy. Chị H đề nghị HĐXX trả lại xe cho chị H.
Đối với số tiền 371.000đ (ba trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) hiện nay đang bị Cơ quan CSĐT Công an huyện B tạm giữ là tiền chị H cho bị cáo Đ. Chị H không yêu cầu bị cáo Đ trả lại số tiền trên cho chị H; chị H không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nông Văn Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave màu đen xám, biển kiểm soát 97B1-752.81 là của vợ bị cáo tên là Đinh Thị H mua năm 2018, đăng ký xe tên Đinh Thị H, xe được mua trong thời gian bị cáo đi chấp hành án; việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô BKS 97B1-752.81 làm phương tiện đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy chị H không biết; hằng ngày, bị cáo và chị H cùng sử dụng chiếc xe trên. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe cho chị Đinh Thị H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố: Nông Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nông Văn Đ từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 20 (hai mươi) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tại bản án số 24/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Nông Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày 03/4/2024, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 02/02/2024 đến ngày 11/02/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật HìnhĐiều 106 của Bộ luật Tốtụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “T78”, bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu “GД còn lại 0,070g cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy màu trắng, phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “Đ”; 01 (Một) phong bì niêm phong “Đ1” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; 01 (một) lọ dung dịch NOVOCAIN 3%; 01 (một) lọ dung dịch DIMWDROL 5% đều chưa qua sử dụng; 01 (một) phong bì niêm phong “ĐTĐ”; 01 phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “Đ2”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “Đ4”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “TĐ”.
+ Trả lại cho bị cáo Nông Văn Đ: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, màu đen, bàn phím cứng, cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) sim của nhà mạng Viettel, số thuê bao 0862.059.xxx; 01 (một) chiếc ví màu nâu cũ, đã qua sử dụng và 371.000đ (ba trăm bảy mươi mốt nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
+ Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave màu đen xám, biển kiểm soát (BKS) 97B1-752.81; Số khung: RLHJA3805GY115115; Số máy: JA38E0282764, xe cũ, đã qua sử dụng, 01 chìa khóa xe và 01 (một) đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 752.81, mang tên đinh Thị Huyền; trong đó, sung công quỹ Nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe mô tô, trả lại 1/2 giá trị chiếc xe mô tô cho chị Đinh Thị H (vợ của bị cáo Đ), trú tại: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo, đại diện Viện kiểm sát không ai đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa, hồ sơ vụ án thể hiện lời khai của chị H trong quá trình điều tra đã đầy đủ, việc chị H vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên, có cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 45 phút 02/4/2024, tại thôn T, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Nông Văn Đ đã có hành vi tàng trữ 0,105g (không phẩy một không năm gam) ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Nội dung Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định như sau:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
[3]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát; của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Xét thấy Cáo trạng số 25/CT-VKSBT ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Nông Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, về xử lí vật chứng, về án phí, về hình phạt bổ sung là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
Xét đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị H về việc trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave màu đen xám, biển kiểm soát 97B1-752.81; đăng ký xe tên Đinh Thị H cho chị H là không có căn cứ nên không được HĐXX chấp nhận. Kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên tòa đều thể hiện chiếc xe mô tô trên là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên chiếc xe mô tô trên là tài sản chung của chị H và bị cáo. Bị cáo Đ đã sử dụng chiếc xe mô tô trên đi mua ma túy và tàng trữ ma túy nên chiếc xe mô tô là phương tiện liên quan đến quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo; do đó, cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước; tuy nhiên, do chiếc xe mô tô trên là tài sản chung của chị H và bị cáo, khi bị cáo đi mua ma túy chị H không biết nên HĐXX chỉ sung công quỹ Nhà nước 1/2 giá trị phần tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave màu đen xám, biển kiểm soát (BKS) 97B1-752.81; Số khung: RLHJA3805GY115115; Số máy: JA38E0282764, xe cũ, đã qua sử dụng, 01 chìa khóa xe và 01 (một) đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 752.81; trả lại 1/2 giá trị chiếc xe mô tô cho chị Đinh Thị H.
Đối với số tiền 371.000đ (ba trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) chị H cho bị cáo Đ. Chị H không yêu cầu bị cáo Đ trả lại số tiền trên cho chị H; chị H không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Do đó, HĐXX không xem xét.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu (ngày 06/01/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 13/6/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”).
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập ổn định; do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “T78”, bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu “GĐ” còn lại 0,070g cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy màu trắng, phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “Đ”; 01 (Một) phong bì niêm phong “Đ1” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; 01 (một) lọ dung dịch NOVOCAIN 3%; 01 (một) lọ dung dịch DIMWDROL 5% đều chưa qua sử dụng; 01 (một) phong bì niêm phong “ĐTĐ”; 01 phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “Đ2”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “Đ4”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “TĐ” là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, màu đen, bàn phím cứng, cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) sim của nhà mạng Viettel, số thuê bao 0862.059.xxx; 01 (một) chiếc ví màu nâu cũ, đã qua sử dụng xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo đề nghị được nhận lại, do đó cần trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền 371.000đ (ba trăm bảy mươi mốt nghìn đồng), HĐXX xét thấy số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
+ Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave màu đen xám, biển kiểm soát (BKS) 97B1-752.81; Số khung: RLHJA3805GY115115; Số máy: JA38E0282764 là công cụ, phương tiện phục vụ cho quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội; chiếc xe được mua trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung của bị cáo và chị H, việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội chị H không biết. Do đó, cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave màu đen xám, biển kiểm soát (BKS) 97B1-752.81; Số khung: RLHJA3805GY115115; Số máy: JA38E0282764 và 01 (một) đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 752.81, mang tên đinh Thị Huyền; trong đó, sung công quỹ Nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe mô tô, trả lại 1/2 giá trị chiếc xe mô tô cho chị Đinh Thị H.
[7]. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Đ vào ngày 02/4/2024 tại Trung đoàn 750 thuộc tổ K, phường H, thành phố B; do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ người này, và cũng không quen biết, Cơ quan cảnh sát điều tra không xác minh làm rõ được, nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Tuyên bố bị cáo Nông Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Nông Văn Đ 20 (hai mươi) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 20 (hai mươi) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tại bản án số 24/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Nông Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 02/02/2024 đến ngày 11/02/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “T78”, bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu “GĐ” còn lại 0,070g cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy màu trắng, phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “Đ”; 01 (Một) phong bì niêm phong “Đ1” bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; 01 (một) lọ dung dịch NOVOCAIN 3%; 01 (một) lọ dung dịch DIMWDROL 5% đều chưa qua sử dụng; 01 (một) phong bì niêm phong “ĐTĐ”; 01 phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “Đ2”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “Đ4”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “TĐ”.
Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave màu đen xám, biển kiểm soát (BKS) 97B1-752.81; Số khung: RLHJA3805GY115115; Số máy: JA38E0282764, xe cũ, đã qua sử dụng, 01 (một) chìa khóa xe và 01 (một) đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 752.81, mang tên Đinh Thị H; trong đó, sung công quỹ Nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe mô tô, trả lại 1/2 giá trị chiếc xe mô tô cho chị Đinh Thị H (vợ của bị cáo Đ), trú tại: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
Trả lại cho bị cáo Nông Văn Đ:
- + 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, màu đen, bàn phím cứng, cũ, đã qua sử dụng.
- + 01 (một) sim của nhà mạng Viettel, số thuê bao 0862.059.xxx.
- + 01 (một) chiếc ví màu nâu cũ, đã qua sử dụng.
Tạm giữ 371.000đ (ba trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án. Sau khi thi hành xong các khoản phải thi hành số tiền còn lại trả cho bị cáo.
(Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/6/2024 giữa Công an huyện B với Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nông Văn Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị H có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật/.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Hương Thành |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn Đ bị TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn xử phạt20 (hai mươi) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
