|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 5 - 2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trãi;
Ông Võ Tự Trị.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Dũng - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 339/2023/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử Số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/QÐST- HNGĐ, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Tô Thị Hồng T, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Khu V B, phường T, quận Ô, TP
(Có mặt tại phiên tòa).
Bị đơn: Ông Phạm Minh H, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Khu V B, phường T, quận Ô, TP
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Tô Thị Hồng T trình bày: Do có thời gian quen biết tìm hiểu, nên bà Tô Thị Hồng T và ông Phạm Minh H đã tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào ngày 18/11/2014 và có chung 01 con chung là Tô Phúc H1, sinh ngày 18/11/2015, gia đình có tổ chức lễ cưới cho cả hai. Do thời điểm có con, bà T chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nên khi khai sinh con chung Tô Phúc Hậu, thì cháu H1 mang họ của bà Tô Thị Hồng T và khai sinh không có tên cha. Đến ngày 03/5/2019 bà T và ông H tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận Ô, TP .. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, ông H ở rể tại nhà của bà T, nhưng về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mặc dù hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng không có kết quả, ông H đã tự ý bỏ nhà đi nơi khác sinh sống, vợ chồng đã sống ly than cách nay hơn 03 năm. Trong quá trình ly thân, ông H không có quan tâm, chăm sóc vợ con. Do thấy hôn nhân không hạnh phúc, nên bà T xin được ly hôn với ông H. Về con chung: Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Tô Phúc H1 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, không khai chứng cứ vào hòa giải, nhưng bị đơn Phạm Minh H vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn trình bày ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quy định về việc phải có mặt khi Tòa án triệu tập. Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn” là phù hợp; bị đơn có nơi cư trú tại quận Ô nên Tòa án nhân dân quận Ô Môn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về nội dụng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị Hồng T đối với ông Phạm Minh H.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị Hồng T được ly hôn với ông Phạm Minh H.
Về con chung: Bà T được quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phúc H2. Trường hợp sau này bà T và ông H có tranh chấp về con chung hoặc cấp dưỡng nuôi con thì sẽ giải quyết bằng vụ việc khác.
Về tài sản chung và nợ chung: Tách thành vụ án khác để giải quyết, khi các đương sự có phát sinh tranh chấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà T và ông H tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận Ô, TP .. Nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà T có đơn xin ly hôn với ông H đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Tranh chấp này, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn quận Ô, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ô Môn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập đối với ông H, nhưng ông H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh ông T1 theo định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà T khai nhận, bà bắt đầu chung sống như vợ chồng với ông Hiền từ ngày 18/11/2024 và có chung 01 con chung là Tô Phúc H1, (nam), sinh ngày 18/11/2015, gia đình có tổ chức lễ cưới cho cả hai. Do thời điểm có con, bà T chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nên khi khai sinh con chung Tô Phúc Hậu, cháu H1 mang họ của bà Tô Thị Hồng T và khai sinh không có tên cha. Đối chiếu với năm sinh của cháu Ngô Phúc H3 thì thời điểm này bà H đã trên 16 tuổi. Đến ngày 03/5/2019 bà T và ông H tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận Ô, TP .. Nên, xác định mối quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông H là hợp pháp. Bà T cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mặc dù hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng không có kết quả, ông H đã tự ý bỏ nhà đi nơi khác sinh sống, vợ chồng đã sống ly thân cách nay hơn 03 năm. Trong quá trình ly thân, ông H không có quan tâm, chăm sóc vợ con. Tại phiên tòa, bà T vẫn kiên quyết xin ly hôn với ông H. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập nhiều lần, nhưng ông H vắng mặt không lý do, cũng như không văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà T. Điều đó chứng tỏ, ông H không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà T, mục đích hôn nhân giữa các đương sự là hạnh phúc không đạt được. Nên yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về con chung: Bà T khai nhận có 01 con chung với ông H là Tô Phúc H1, (nam), sinh ngày 18/11/2015, hiện do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, căn cứ vào Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Phúc H2 không có ghi nhận tên cha, quá trình giải quyết vụ án, ông H vắng mặt không lý do, nên không đối chất được vấn đề con chung giữa các đương sự. Nên chưa có cơ sở xác định cháu H2 là con chung của bà T và ông H. Hiện nay cháu H2 đang được bà T trực tiếp nuôi dưỡng, nên tiếp tục giao cháu H2 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Vấn đề xác định cháu H2 là con chung giữa bà T và ông H thì tách thành vụ án khác để giải quyết khi các đương sự có tranh chấp về con chung.
[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Do ông H vắng mặt không lý do, nên chưa ghi nhận được ý kiến của ông H về vấn đề này. Nên, tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp.
[6] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị Hồng T với ông Phạm Minh H.
Về quan hệ hôn nhân: Bà bà Tô Thị Hồng T được ly hôn với ông Phạm Minh H.
[5] Về con chung: Bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu là Tô Phúc H1, (nam), sinh ngày 18/11/2015 đến tuổi trưởng thành. Vấn đề xác định cháu H1 là con chung giữa bà T và ông H thì tách thành vụ án khác để giải quyết khi các đương sự có tranh chấp về con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp.
Về án phí: Bà Tô Thị Hồng T chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai số 0004367 ngày 11/12/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Trãi Võ Tự T2 |
Phạm Quốc K |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
