Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/DS-ST

Ngày 10 tháng 5 năm 2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

dân sự về mua bán hàng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG.

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn;

- Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Nguyễn Xuân Trường.

2- Ông Nguyễn Ngọc Trứ.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy - Kiểm sát viên

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 302/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự về mua bán hàng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24c/2024/QĐXXST -DS ngày 13/3/2024:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1957 – Có mặt

Nơi thường trú: Số nhà H, đường L, tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1971 – Vắng mặt

Nơi thường trú: Thôn K, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đặng Văn T, sinh năm 1971 – Vắng mặt

Nơi thường trú: Thôn K, xã L, huyện H, Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 02/6/2023; bản tự khai ngày 06/8/2023 và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị C trình bày:

Do bà kinh doanh thức ăn chăn nuôi nên vợ chồng bà N, ông T có lấy cám thức ăn chăn nuôi của gia đình bà. Quá trình lấy cám của gia đình bà thì bà N là người nhận cám và ký xác nhận. Sau nhiều lần mua cám thức ăn chăn nuôi đến ngày 23/7/2022 bà và bà N chốt sổ nợ và lập Biên bản xác nhận nợ, theo đó bà N, ông T còn nợ bà số tiền 640.900.000 đồng.

Bà đã nhiều lần yêu cầu bà N, ông T trả số tiền hai bên chốt nợ trong Biên bản xác nhận nợ nhưng vợ chồng bà N, ông T nhiều lần khất nợ không trả được cho tôi số tiền chốt nợ.

Tại phiên tòa bà giữa nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa buộc vợ chồng bà N, ông T phải trả cho bà số tiền nợ gốc 640.900.000 đồng. Bà không yêu cầu tính lãi suất từ ngày chốt nợ, bà yêu cầu tính lãi suất từ ngày bà yêu cầu thi hành án đến khi bà N, ông Thiên thanh t xong khoản nợ theo lãi suất quy định của pháp luật.

* Bà N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trình bày: Bà xác định bà C khởi kiện vợ chồng bà là đúng. Do gia đình làm nghề chăn nuôi lợn nên bà C có đầu tư cho gia đình bà cám thức ăn chăn nuôi để chăn nuôi lợn. Quá trình nuôi lợn do dịch bệnh những năm 2017- 2019 và 2020 -2022 vì vậy lợn nhà bà chết hết, không có bán để thu hồi vốn trả cho bà C được. Sau khi không tiếp tục chăn nuôi và mua cám thức ăn chăn nuôi của bà C nữa thì hai bên có chốt sổ, vợ chồng bà còn nợ bà C số tiền 640.900.000 đồng. Đến ngày 23/7/2022 bà và bà C có lập Biên bản xác nhận nợ, theo đó, vợ chồng bà còn nợ bà C số tiền 640.900.000 đồng là đúng.

Bà C khởi kiện, yêu cầu vợ chồng bà phải trả cho bà C số tiền nợ 640.900.000 đồng, bà đồng ý trả, tuy nhiên hiện kinh tế gia đình khó khăn nên bà đề nghị được trả dần.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn T đã được Tòa án Thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 288; Điều 430; Điều 431, Điều 433; Điều 440; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự;

Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị C.

Buộc bà Vũ Thị N, ông Đặng Văn T phải liên đới trả trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền số tiền 640.900.000 đồng.

2. Về án phí: Bà Vũ Thị N, ông Đặng Văn T phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Đề nghị tuyên quyền kháng cáo đối với đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định.

[1]. Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn T đã được Tòa án Thông báo thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến phản hồi về việc khởi kiện. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải bà Vũ Thị N, ông Đặng Văn T đã được Thông báo họp lệ nhưng vẫn vắng mặt Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 207; Điều 208; Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do các đương sự không tiến hành hòa giải được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tại phiên tòa hôm nay bà Vũ Thị N, ông Đặng Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C yêu cầu bà Vũ Thị N, ông Đặng Văn T phải trả số tiền còn nợ mua cám thức ăn chăn nuôi theo Biên bản xác nhận nợ đề ngày 23/7/2022. Các bên khi mua bán hàng hóa, có giao kết bằng văn bản nên xác định đây là hợp đồng dân sự về mua bán hàng hóa. Khi có tranh chấp nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết, xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về mua bán hàng hóa” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ giữa các bên là quan hệ dân sự giữa cá nhân với cá nhân, các bên đã không tự giải quyết được khi có tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự.

[3]- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C yêu cầu vợ chồng bà Vũ Thị N, ông Đặng Văn T phải trả số tiền mua cám còn nợ là 640.900.000 đồng, bị đơn đồng ý trả số tiền còn nợ như bà C yêu cầu. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn T đã được Thông báo về việc thụ lý vụ án hợp lệ nhưng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C, như vậy xác định ông T đã từ bỏ quyền lợi của bản thân được pháp luật bảo vệ.

Hội đồng xét xử thấy rằng tài liệu chứng cứ bà C cung cấp, bà N thừa nhận việc nợ tiền, do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C. Do bà Vũ Thị N và ông Đặng Văn T có quan hệ vợ chồng do vậy cần buộc vợ chồng bà N, ông T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà C số tiền còn nợ là 640.900.000 đồng theo quy định tại các Điều 288; Điều 430; Điều 431, Điều 433; Điều 440; Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự và Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4]- Về án phí: Căn cứ Điều 147; Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 12 khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bà Vũ Thị N, ông Đặng Văn T phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Do bà C không phải nộp tiền tạm ứng án phí lên không xem xét.

[5]- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 288; Điều 430; Điều 431, Điều 433; Điều 440; Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình.

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.

    Buộc bà Vũ Thị N, ông Đặng Văn T phải liên đới trả trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền còn nợ là 640.900.000 đồng.

    Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với các khoản tiền mà bên có nghĩa vụ phải thanh toán cho bên được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  2. Về án phí: Bà Vũ Thị N, ông Đặng Văn T phải liên đới chịu 29.636.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND T. Bắc Giang;
  • -VKSND H. Hiệp Hòa;
  • -Chi cục THADS H. Hiệp Hòa;
  • -Đương sự;
  • -Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân

Nguyễn Xuân Trường

Nguyễn Ngọc Trứ

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự về mua bán hàng

  • Số bản án: 29/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự về mua bán hàng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Nguyễn Thị C - Bị đơn: Vũ Thị N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger