Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/DS-PT

Ngày: 10/01/2024

V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

***

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tú Oanh

Các Thẩm phán:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền
  2. Bà Phạm Thị Kim

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Thọ, cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H: Bà Đỗ Thị Vân - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Vào các ngày 27 tháng 12 năm 2023 và ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố H xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 3385 /DSPT ngày 02/10/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 27/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện X, Thành phố H bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4725/2023/QĐPT-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023, và quyết định hoãn phiên tòa số 16014/2023/QĐ-PT ngày 28/11/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1936 (vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: 10/11B Ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

Địa chỉ tạm trú: số nhà A ấp H, xã B, huyện H, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1961. (có mặt)

Địa chỉ thường trú: A ấp H, xã B, huyện H, Thành phố H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Lê Quang Đ – Văn phòng luật sư Lê Q thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)

Địa chỉ: số nhà A Đường số A Khu dân cư C, Phường G, quận G, Thành phố H.

Bị Đơn:

  1. Bà Trần Thanh L, sinh năm 1973 (có mặt)
  2. Địa chỉ thường trú: số C Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

  3. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1938 (chết năm 2020)
  4. Địa chỉ thường trú (trước khi chết): số A Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:

    1. Bà Trần Thị T, sinh năm 1942 (có đơn xin vắng mặt)
    2. Địa chỉ thường trú: số A Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

    3. Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1962 (có đơn xin vắng mặt)
    4. Địa chỉ thường trú: số 88 Ấp E, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

    5. Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1965 (có mặt)
    6. Địa chỉ thường trú: số 363/2 Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

    7. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1966 (có đơn xin vắng mặt)
    8. Địa chỉ thường trú: số C Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

    9. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1972; (có đơn xin vắng mặt)
    10. Địa chỉ thường trú: A Áp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

    11. Bà Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1974; (có đơn xin vắng mặt)
    12. Địa chỉ thường trú: Phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

    13. Ông Nguyễn Quang L2, sinh năm 1977; (có mặt)
    14. Địa chỉ thường trú: 1/28 Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

    15. Bà Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1981; (có đơn xin vắng mặt)
    16. Địa chỉ thường trú: 1/28Đ Áp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện H; (có đơn xin vắng mặt)
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Hồng T2 – Chủ tịch;

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ưu T3 – Chuyên viên Phòng T7;

    Địa chỉ: số A đường L, thị trấn H, huyện H, Thành phố H.

  3. Bà Trần Thị T, sinh năm 1942; (có đơn xin vắng mặt)
  4. Địa chỉ thường trú: số nhà A Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

  5. Bà Nguyễn Thị Phương T4, sinh năm 1983; (có đơn xin vắng mặt)
  6. Ông Nguyễn Quang L2, sinh năm 1977; (có mặt)
  7. Cháu Nguyễn Ngọc Phương T5, sinh năm 2004;
  8. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quang L2, sinh năm 1977;

    Cùng địa chỉ thường trú: 1/28 Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

  9. Bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1981; (vắng mặt)
  10. Ông Nguyễn Văn L4, sinh năm 1979; (văng mặt)
  11. Anh Nguyễn Tuấn V, sinh năm 2003; (văng mặt)
  12. Cháu Nguyễn Thị Diệu L5, sinh năm 2007; (vắng mặt)
  13. Cháu Nguyễn Thị Mỹ T6, sinh năm 2008; (văng mặt)
  14. Cháu Nguyễn Đức A, sinh năm 2018; (văng mặt)
  15. Người đại diện theo pháp luật của cháu L5, cháu T6, cháu Đức A: Bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1981;

    Cùng địa chỉ tạm trú: số nhà C Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H.

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị M.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị M do bà Nguyễn Thị Mỹ D đại diện theo ủy quyền trình bày:

Năm 1976, vợ chồng bà Trần Thị M và ông Nguyễn Văn C được vợ chồng ông Nguyễn Văn C1 cho một phần đất có chiều ngang 15m, chiều dài 25m để cất nhà. Vị trí lô đất giáp mặt đường Tỉnh lộ 9 (nay là đường Đ). Sau khi được ông C1 cho đất, vợ chồng bà M có cất nhà trên phần đất này, có đăng ký hộ khẩu với số nhà A ấp A, xã Đ, huyện H.

Một thời gian sau, ông Nguyễn Văn P (là cháu ruột của ông C) xin ông C cho cất chòi lá dừa ngang 1m để làm quán bán hàng tạp hóa (trên phần đất ông C1 cho ông C). Do ông P có nhiều đất vườn phía sau đình ấp 1 nhưng không có đất mặt tiền. Lúc đó, ông C tạm cho ông Nguyễn Thành M1 (em ruột ông C) ở trên phần đất này vì ông M1 bị bệnh, không có vợ con nương tựa. Còn vợ chồng bà M chuyển xuống mảnh đất ở ấp B, xã Đ sinh sống. Cuối năm 1983, ông C mất, ông M1 vô trại dưỡng lão thì gia đình bà M không còn sinh sống ở đây. Thời gian vợ chồng bà M sinh sống ở phần đất được ông C1 cho là từ năm 1976 đến năm 1983.

Khi đó, ông P có ý đồ chiếm đoạt căn nhà trên của gia đình bà M. Bà M có gặp ông P nhiều lần đề đòi lại nhà nhưng ông P không trà. Ông P còn tự ý cho bà Nguyễn Thị B (em gái ông P) cất nhà cấp 4 trên một phần thừa đất. Sau khi bà B chết thì con gái bà B là bà Trần Thanh L tiếp tục sử dụng.

Bà M có gửi đơn thưa ông P đến Ủy ban nhân dân xã Đ nhưng ông P không hợp tác. Bà M có đăng ký kê khai phần đất năm 1999 và có đơn ngăn chặn ông P và bà L kê khai phần đất này.

Do đó, bà M khởi kiện yêu cầu ông P và bà L trả lại phần đất diện tích đo đạc thực tế là 358,5m2 thuộc một phần thừa 331, TBĐ số 7, tọa lạc xã Đ, huyện H, Thành phố H (theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 106244/TTĐĐBĐ-CNHM ngày 02/6/2020 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H).

Trong quá trình giải quyết vụ án, nhà nước có thu hồi một phần diện tích đất trên để thực hiện dự án nâng cấp, sửa chữa Tỉnh lộ 9 (đường Đ). Phần đất ông P sử dụng bị thu hồi là 84,6m2, được nhà nước đền bù số tiền 1.230.985.200 đồng, ông P chưa nhận số tiền này; phần đất bà L sử dụng bị thu hồi là 55,2m2, được nhà nước đền bù số tiền 798.302.400 đồng, bà L đã nhận số tiền này.

Hiện nay, phần đất này do gia đình ông P và bà L đang quản lý, sử dụng. Do đó, bà M khởi kiện yêu cầu:

Ông P trả lại phần đất diện tích đo đạc thực tế là 186,2m2 thuộc một phần thừa 331, TBĐ số 7 (nay thuộc một phần thừa 15, 16, TBĐ số 61), tọa lạc số A, Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H (ký hiệu vị trí số 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108308/TTĐĐBĐ-CNHM ngày 04/8/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H). Bà M yêu cầu được nhận số tiền đền bù giá trị phần diện tích đất 84,6m2 bị thu hồi là 1.230.985.200 đồng.

Bà L trả lại phần đất diện tích đo đạc thực tế là 33,4m2 thuộc một phần thừa 331, TBĐ số 7 (nay thuộc một phần thừa 14, TBĐ số 61), tọa lạc số C, Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H (ký hiệu vị trí số 1, 2, 3 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108308/TTĐĐBĐ-CNHM ngày 04/8/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H) và số tiền đền bù giá trị phần diện tích đất 55,2m2 bị thu hồi mà bà L đã nhận là 798.302.400 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn P do các ông, bà Trần Thị T, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị Kim S, Nguyễn Quang L2, Nguyễn Thị Ánh N kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng trình bày:

Phần đất diện tích khoảng 270m2 thuộc một phần thừa 331, TBĐ số 7, tọa lạc số A, Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H có nguồn gốc của mẹ ông P là bà Trần Thị P2 đê lại cho ông P.

Trước năm 1975, ông C1 chiếm đất của bà P2 để cất 01 căn nhà lá sinh sống. Năm 1975, ông C1 trả lại đất cho ông P. Năm 1977, ông P cất 01 căn nhà lá trên đất. Năm 1977, ông C không có nơi sinh sống nên ông P cho ông C cất 01 chòi lá để sinh sống trên đất của ông P. Năm 1978, ông C được nhà nước cấp một phần đất ở Ấp B, xã Đ nên gia đình ông C chuyển về Ấp B sinh sống và trả lại đất cho ông P. Năm 2019, khi gia đình ông P chuẩn bị nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng (do nhà nước thu hồi một phần đất để nâng cấp, sửa chữa đường Đ) thì bà M tranh chấp.

Gia đình ông P đã sử dụng phần đất trên ổn định, lâu dài từ năm 1975 đến nay không có ai tranh chấp.

Phần đất còn lại (sau khi bị nhà nước thu hồi một phần) hiện nay có diện tích đo đạc thực tế là 186,2m2 thuộc một phần thừa 331, TBĐ số 7 (nay thuộc một phần thừa 15, 16, TBĐ số 61) và tài sản gắn liền với đất diện tích 118,2m2, tọa lạc số 3/5B Ấp A, xã Đ, huyện H (ký hiệu vị trí số 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108308/TTĐĐBĐ-CNHM ngày 04/8/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H).

Do đó, các ông, bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà M.

Bị đơn bà Trân Thanh L trình bày:

Phần đất diện tích khoảng 80m2 thuộc một phần thừa 331, TBĐ số 7, tọa lạc số C, Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố H trước năm 1975 là đất vắng chủ, vợ của lính cất nhà ở tạm. Sau năm 1975, mẹ của bà L là bà B đến ở. Trong quá trình sử dụng, bà B có nhiều lần bồi đắp mới được cao ráo như hiện nay. Ban đầu, bà B cất nhà lá, sau đó sửa thành nhà ngói, nhà tole. Gia đình bà đăng ký hộ khẩu từ ngày 01/10/1976 và sử dụng ổn định, liên tục, không có ai tranh chấp phần đất này từ đó đến nay. Bà có đăng ký kê khai phần đất này và hằng năm đều có nộp thuế sử dụng đất. Năm 2019, nhà nước có thu hồi một phần đất của bà để mở rộng đường Đ và đã chi trả tiền đền bù cho bà. Trước khi nhà nước chi trả tiền đền bù cho bà, nhà nước đã xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng và xác định bà là người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất này.

Phần đất còn lại (sau khi bị nhà nước thu hồi một phần) hiện nay có diện tích đo đạc thực tế là 33,4m2 thuộc một phần thừa 331, TBĐ số 7 (nay thuộc một phần thừa 14, TBĐ số 61) và tài sản gắn liền với đất diện tích 27m2, tọa lạc số 3/5B ấp A, xã Đ, huyện H (ký hiệu số 1, 2, 3 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108308/TTĐĐBĐ-CNHM ngày 04/8/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H).

Do đó, bà L không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà M.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện H do ông Lê Ưu T3 đại diện theo ủy quyền trình bày:

Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết các yêu cầu của các đương sự trong vụ án theo đúng quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị Phương T4, ông Nguyễn Quang L2, cháu Nguyễn Ngọc Phương T5 (do ông L2 đại diện theo pháp luật) trình bày:

Các ông, bà thống nhất với lời trình bày của ông L2, ông Đ1, bà L; không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà M.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị L3, ông Nguyễn Văn L4, anh Nguyễn Tuấn V, cháu Nguyễn Thị Diệu L5, cháu Nguyễn Thị Mỹ T6, cháu Nguyễn Đức A (do bà Nguyễn Thị L3 đại diện theo pháp luật) trình bày:

Các ông, bà là người thuê nhà của bà L nên không biết và cũng không liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà M với bà L, ông P.

Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 27/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện X, Thành phố H quyết định:

Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2005;

Áp dụng Luật đất đai năm 1993; Luật đất đai năm 2003;

Áp dụng Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai năm 2013;

Áp dụng Luật người cao tuổi;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thanh L:
    1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M về việc buộc ông Nguyễn Văn P trả lại phần đất diện tích đo đạc thực tế là 186,2m2 thuộc một phần thừa 15, 16, TBĐ số 61 (thừa cũ là thừa 331, TBĐ số 7) tọa lạc xã Đ, huyện H, Thành phố H (ký hiệu vị trí số 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108308/TTĐĐBĐ-CNHM ngày 04/8/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H).
    2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M về việc yêu cầu được nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ do nhà nước thu hồi phần đất diện tích 84,6m2 thuộc một phần thừa 15, TBĐ số 61, tọa lạc xã Đ, huyện H, Thành phố H để thực hiện dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng để nâng cấp, sửa chữa đường Tỉnh lộ 9 (đường Đ) là 1.230.985.200 đồng.

    3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M về việc yêu cầu bà Trần Thanh L trả lại phần đất diện tích đo đạc thực tế là 33,4m2 thuộc một phần thừa 14, TBĐ số 61 (thừa cũ là thừa 331, TBĐ số 7), tọa lạc xã Đ, huyện H, Thành phố H (ký hiệu vị trí số 1, 2, 3 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108308/TTĐĐBĐ-CNHM ngày 04/8/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H) và số tiền bồi thường, hỗ trợ mà bà L đã nhận do nhà nước thu hồi phần đất diện tích 55,2m2 thuộc một phần thừa 14, TBĐ số 61, tọa lạc xã Đ, huyện H, Thành phố H để thực hiện dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng để nâng cấp, sửa chữa đường Tỉnh lộ 9 (đường Đ) là 798.302.400 đồng.
  2. Bà Trần Thị M phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá do bà M đã nộp là 34.075.284 đồng (đã nộp đủ).
  3. Ông Nguyễn Quang L2 đồng ý chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do ông L2 đã nộp là 4.000.000 đồng (đã nộp đủ).

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị M được miễn toàn bộ án phí.
  5. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/4/2023, bà Trần Thị M kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm Phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều chấp hành và tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 27/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện X, Thành phố H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà M làm đúng hình thức, trong hạn luật định, bà M được miễn tạm ứng án phí nên được công nhận về mặt hình thức.

[2] Về nội dung kháng cáo:

Xét nội dung đơn kháng cáo của bà M, với lý do kháng cáo của bà M đưa ra là phán quyết của Tòa sơ thẩm là không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa bà D đại diện cho bà M trình bày: Tòa cấp sơ thẩm không đưa các con của ông C và bà M là vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Đề nghị hủy án.

Hội đồng xét xử xét thấy,

Nguyên đơn bà Trần Thị M khởi kiện yêu cầu buộc gia đình ông Nguyễn Văn P trả lại cho bà diện tích 186,2m2. Theo bà M, diện tích tranh chấp này nguyên là vợ chồng bà M, ông Nguyễn Văn C được ông Nguyễn Văn C1 cho, vợ chồng bà đã cất nhà, đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ của căn nhà.

Ông C và bà M có 4 người con gồm Nguyễn Thị Mỹ D, Nguyễn Hùng S1 (chết năm 1977), Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Thị Phương N1.

Bà M khởi kiện đòi lại tài sản của vợ chồng bà sau khi ông C chết (năm 1983) không để lại di chúc, nên việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của các con của ông C, bà M gồm Nguyễn Thị Mỹ D, Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Thị Phương N1 - những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông C. Vì vậy, căn cứ khoản 4 Điêu 68 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án phải đưa họ vào tham gia tô tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của vụ án.

Việc không triệu tập bà Nguyễn Thị Mỹ D, Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Thị Phương N1 tham gia tố tụng là xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên bản án xét xử cần phải hủy để giải quyết lại vụ án từ cấp sơ thẩm, triệu tập người người nêu trên tham gia tố tụng, đảm bảo quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhận định việc triệu tập các con của ông C tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không cần thiết nên đề nghị y án sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy việc giải quyết vụ án dân sự theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà M trực tiếp có liên quan đến quyền lợi của bà D, bà H, và bà N1 bởi lẽ trong trường hợp chấp nhận hoặc bác yêu cầu khởi kiện của bà M thì đều liên quan đến quyền về tài sản của bà D, bà H, và bà N1 với tư cách là người thừa kế của ông C. Căn cứ đoạn 2 khoản 4 của Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự thì trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Việc Tòa án không đưa bà D, bà H, và bà N1 tham gia tố tụng, ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Như vậy, chấp nhận kháng cáo của bà M về nội dung kháng cáo Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng. Đối với nội dung kháng cáo của bà M về đường lối giải quyết, do hủy bản án để xét xử lại nên Hội đồng phúc thẩm không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng: sẽ được quyết định khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án

Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bà M được chấp nhận nên bà M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1, 2 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,

  1. Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị M.
  2. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 27/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện X, Thành phố H. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện X, Thành phố H giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: sẽ được quyết định khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án.
  4. Án phí dân sự phúc thẩm: bà Trần Thị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

THẨM

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP. H;
  • - VKSND cấp cao tại TP. H;
  • - VKSND TP. H;
  • - TAND huyện X;
  • - Chi cục THA DS huyện X;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Tú Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố H về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 29/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, Hủy Bản án dân sự sơ thẩm, Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp dưới giải quyết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger