TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/DS-PT Ngày: 09 - 7 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn và bà Đỗ Thị Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hải Bằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 47/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số nhà D, đường B, tổ G, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Văn T: Ông Phạm Huy H - Luật sư Văn phòng Luật sư Huy H và cộng sự, Đoàn Luật sư tỉnh T; Địa chỉ: Số A, đường C, tổ H, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Có mặt)
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ A (tổ 35 cũ), phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số nhà D, đường B, tổ G, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Nguyễn Thị H1: Luật sư Phạm Huy H (Có mặt)
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ngõ C, đường N, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt)
- Văn phòng C; Địa chỉ: Số B, L, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân T1 - Trưởng Văn phòng (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Chị Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1977 và anh Nguyễn Công T3, sinh năm 1974; nơi cư trú: Số nhà A, đường T, tổ F, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Duy H2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; địa chỉ liên hệ: Số nhà A, ngách D, ngõ A, đường T, phường C, quận B, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn E, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt)
- Người kháng cáo: Bị đơn - chị Nguyễn Thị D.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn - anh Nguyễn Văn T trình bày:
Ngày 08/12/2021, qua người quen là anh H2, anh và vợ anh là H1 biết chị D. Chị D nói với vợ chồng anh chị vừa trúng đấu giá lô đất số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình và có nhu cầu chuyển nhượng lại lô đất này. Xuất phát từ nhu cầu của gia đình, vợ chồng anh đã đồng ý nhận chuyển nhượng lô đất trên của chị D. Anh và chị D đã ký kết Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021, theo đó, anh đặt cọc cho chị Duyên số tiền 240.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng lô đất số 02 D4, diện tích 140m², khu đấu giá xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Hai bên thỏa thuận chị D ủy quyền cho anh thực hiện toàn bộ việc nộp số tiền còn lại của lô đất trên theo quy định và làm thủ tục nhận chuyển quyền sử dụng đất mang tên chị D, chị D có trách nhiệm chuyển thông báo nộp tiền cho anh khi chị D nhận được thông báo để anh chuẩn bị các thủ tục cần thiết, anh có trách nhiệm nộp đúng thời gian trong thông báo. Nếu anh nộp chậm thì hoàn toàn chịu trách nhiệm. Sau khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị D, chị D có trách nhiệm ký toàn bộ hồ sơ chuyển nhượng lô đất cho vợ chồng anh tại Văn phòng công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp anh không thực hiện đúng và đủ các nghĩa vụ quy định của nhà nước thay cho chị D thì anh mất toàn bộ tiền cọc và tiền chênh lệch. Ngược lại, nếu chị D không ký chuyển nhượng lô đất khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chị D phải đền. Anh chịu toàn bộ các khoản thuế, phí phát sinh liên quan đến lô đất theo quy định của nhà nước.
Việc thanh toán tiền đặt cọc vợ chồng anh đã thực hiện thành 03 lần trong ngày 08/12/2021: 02 (hai) lần thanh toán bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của vợ anh là H1 vào tài khoản ngân hàng của anh H2, trong đó lần 1 chuyển 80.000.000 đồng, lần 2 chuyển 150.000.000 đồng, 01 (một) lần thanh toán bằng tiền mặt 10.000.000 đồng đưa trực tiếp cho anh Nguyễn Duy H2. Sau khi nhận tiền từ vợ chồng anh, theo yêu cầu của chị D, anh H2 đã chuyển toàn bộ số tiền đặt cọc trên vào tài khoản ngân hàng của chị P số [...] tại Ngân hàng Q (N) (chị P là người quen của chị D). Sau khi nhận đủ tiền, chị P đã ký xác nhận việc đã nhận tiền của vợ chồng anh đặt cọc cho chị D tại Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021. Ngay sau khi ký kết Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021 và thanh toán xong số tiền đặt cọc 240.000.000 đồng, vợ chồng anh có hỏi chị D thủ tục tiếp theo như thế nào thì chị D bảo vợ chồng anh cứ yên tâm, có gì chị D sẽ thông báo sau.
Tuy nhiên, sau đó không thấy chị D thông báo lại, chị D không làm thủ tục ủy quyền theo quy định và không chuyển thông báo nộp tiền liên quan đến thửa đất cho vợ chồng anh để vợ chồng anh thực hiện nộp tiền. Ngày 23/12/2021, anh H2 có gửi qua Zalo cho anh ảnh chụp thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất số LTB2111505-TK0000643/TB-CCT và Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB2111505-TK0000673/TB-CCT đều đề ngày 09/12/2021 của Chi cục thuế khu vực Q - H. Do chỉ là ảnh chụp, tên người nộp thuế trong thông báo không phải là tên của chị D mà là tên của chị Lê Thị Thanh T2 nên anh không quan tâm. Anh gọi điện lại cho anh H2 thì anh H2 thông báo ngày 09/01/2022 là hạn cuối nộp tiền nhưng vợ chồng anh không đồng ý và báo với anh H2 phải đi trước 01 ngày (ngày 08/01/2022) để nếu có vấn đề gì còn kịp xử lý. Ngày 08/01/2022, anh H2 hẹn vợ chồng anh ra Văn phòng Công chứng Nguyễn Xuân T1 để anh H2 lấy giấy tờ chị D gửi để đi nộp thuế. Sau khi ra Văn phòng Công chứng Nguyễn Xuân T1, anh H2 lại bảo vợ chồng anh cứ về đi vì hôm nay là thứ 7 cơ quan thuế không làm việc. Đến ngày 10/01/2022, anh H2 hẹn vợ chồng anh ra Văn phòng Công chứng Nguyễn Xuân T1 và đưa cho vợ chồng anh Thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất số LTB2111505-TK0000643/TB-CCT và Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB2111505-TK0000673/TB-CCT đều đề ngày 09/12/2021 của Chi cục thuế khu vực Q - H mang tên người nộp thuế chị Lê Thị Thanh T2. Theo thông báo này, thời hạn nộp tiền sử dụng đất lô đất số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình chậm nhất là ngày 07/01/2022. Lúc này, do đã quá hạn nộp tiền nên anh H2 đưa 02 Thông báo cho vợ chồng anh để vợ chồng anh tìm cách nộp tiền tại cơ quan thuế (khi anh H2 giao 02 thông báo trên, vợ anh đã quay lại video để xác nhận sự việc). Khi đến cơ quan thuế thì cơ quan thuế giải thích thời hạn nộp tiền trúng đấu giá lô đất số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình đã hết, mặt khác người có nghĩa vụ nộp tiền là chị Lê Thị Thanh T2, không có căn cứ về việc chị T2 ủy quyền hay chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh nên vợ chồng anh không được nộp tiền. Sau khi sự việc xảy ra, vợ chồng anh đã thông báo với chị Nguyễn Thị D để tìm hướng giải quyết nhưng chị D trốn tránh, không hợp tác. Hiện nay, lô đất trên đã bị UBND huyện H ra quyết định hủy kết quả trúng đấu giá.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: Đề nghị Tòa án tuyên bố Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021 giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị D vô hiệu và buộc chị Nguyễn Thị D hoàn trả cho vợ chồng anh số tiền đặt cọc 240.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh của số tiền theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn - chị Nguyễn Thị D trình bày:
Ngày 08/12/2021, chị cùng một nhóm anh chị em làm chung góp vốn để tham gia đấu giá quyền sử dụng đất tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Người đứng tên đấu giá lô đất số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình là chị Lê Thị Thanh T2. Sau khi trúng đấu giá, chị T2 đã ủy quyền cho chị và chị Nguyễn Thị P chuyển nhượng và thực hiện mọi quyền, nghĩa vụ liên quan đến thửa đất. Anh H2 và chị T4 là người giới thiệu khách mua lô đất trên cho các chị (chị không biết cụ thể họ tên, địa chỉ, chỉ biết số điện thoại của anh H2, chị T4, anh chị em quen nhau trong quá trình đi đấu giá đất). Lúc đó, do chị P có việc bận nên bảo chị ký giấy tờ nhận cọc, chị làm việc trực tiếp với anh H2, đến khi anh H2 đưa Căn cước công dân của anh T cho chị để làm biên bản đặt cọc, chị mới biết anh T là người mua đất. Số tiền cọc 80.000.000 đồng thỏa thuận tại Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021 giữa chị và anh Nguyễn Văn T, anh H2 chuyển trực tiếp cho chị P, chị không nhận tiền, chị chỉ ký Biên bản đặt cọc khi chị P thông báo đã nhận được tiền. Còn sau đó, giữa anh H2, vợ chồng anh T và chị P thỏa thuận nhận thêm tiền cọc như thế nào, nhận bao nhiêu chị cũng không rõ. Sau khi bán lô đất trên, các chị có trả công cho chị T4 là 5.000.000 đồng, còn chị T4 và anh H2 thỏa thuận như thế nào chị không biết.
Theo Thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất số LTB2111505-TK0000643/TB-CCT và Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB2111505-TK0000673/TB-CCT đều đề ngày 09/12/2021 của Chi cục thuế khu vực Q - H, hạn cuối cùng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước liên quan đến lô đất số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình là 07/01/2022. Tuy nhiên, hôm đó là thứ 7, Ngân hàng không làm việc nên anh T, chị H1 đã liên hệ với chị để tìm hướng giải quyết. Thời điểm đó chị Lê Thị Thanh T2 chưa làm thủ tục ủy quyền cho anh T, chị H1 theo thỏa thuận trong Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021 các bên đã ký kết. Hiện nay, lô đất trên đã bị UBND huyện H ra quyết định hủy kết quả trúng đấu giá, số tiền 140.000.000 đồng chị T2 nộp đặt trước để tham gia đấu giá lô đất đã bị thu hồi vào Ngân sách nhà nước.
Đối với yêu cầu khởi kiện của anh T, chị H1 yêu cầu tuyên bố Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021 giữa chị và anh T vô hiệu và buộc chị hoàn trả cho vợ chồng anh T, chị H1 số tiền đặt cọc 240.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh của số tiền trên kể từ ngày 08/12/2021 đến khi chị thanh toán xong với lãi suất là 9%/năm, chị có ý kiến như sau: Chị chỉ ký vào Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021 và trong Biên bản thỏa thuận đặt cọc là 80.000.000 đồng chứ không phải 240.000.000 đồng, toàn bộ số tiền đặt cọc 240.000.000 đồng anh H2 chuyển trực tiếp cho chị P, chị không nhận tiền của anh T, chị H1 nên chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh T, chị H1.
Số tiền 140.000.000 đồng chị T2 là người nộp vào Ngân sách nhà nước để tham gia đấu giá lô đất số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Việc lập hội nhóm tham gia đấu giá đất giữa các chị chỉ là tự phát, không lập thành Công ty hay tổ chức nào. Tòa án đã yêu cầu chị cung cấp họ tên, địa chỉ của những người cùng nhóm đấu giá đất nhưng chị không cung cấp được do hiện tại, chị không nhớ cụ thể thông tin họ tên, địa chỉ của những người cùng góp vốn tham gia đấu giá quyền sử dụng đất. Chị, chị P, chị T2 là người trực tiếp thực hiện các giao dịch liên quan đến thửa đất số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Các chị sẽ có trách nhiệm trực tiếp tham gia tố tụng trong vụ án tranh chấp dân sự này. Trường hợp trong hội nhóm các chị có tranh chấp về các vấn đề liên quan đến thửa đất, các chị sẽ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án khác.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
+ Chị Nguyễn Thị H1 nhất trí với trình bày của nguyên đơn - anh T.
+ Chị Nguyễn Thị P trình bày:
Ngày 08/12/2021, chị cùng một nhóm anh chị em làm chung góp vốn để tham gia đấu giá quyền sử dụng đất tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Hiện tại, chị không nhớ cụ thể thông tin họ tên, địa chỉ của những người cùng góp vốn tham gia đấu giá quyền sử dụng đất. Người đứng tên đấu giá lô đất số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình là chị Lê Thị Thanh T2. Số tiền đặt trước để tham gia đấu giá là 140.000.000 đồng. Sau khi trúng đấu giá, chị T2 đã ủy quyền cho chị và chị D là chị em cùng nhóm góp vốn tham gia đấu giá đất chuyển nhượng và thực hiện mọi quyền, nghĩa vụ liên quan đến thửa đất. Sáng cùng ngày 08/12/2021, chị T4 là chị họ chị giới thiệu anh H2 là khách mua đất cho các chị. Chị trực tiếp thỏa thuận với anh H2 về việc chuyển nhượng lô đất trên, giá trị chuyển nhượng bằng giá các chị trúng đấu giá lô đất cộng với tiền chênh. Do thời gian đã lâu, chị chuyển nhượng nhiều lô đất với hình thức này nên chị không nhớ cụ thể tiền chênh của lô đất đó là bao nhiêu. Chị và anh H2 có thỏa thuận anh H2 có trách nhiệm đặt cọc trước cho các chị 240.000.000 đồng. Các chị ủy quyền cho anh H2 thực hiện toàn bộ việc nộp số tiền còn lại của lô đất trên theo quy định và có trách nhiệm chuyển thông báo nộp tiền cho anh H2 khi các chị nhận được từ cơ quan có thẩm quyền, phía anh H2 có trách nhiệm nộp tiền vào ngân sách đúng thời gian trong thông báo. Nếu anh H2 nộp chậm thì hoàn toàn chịu trách nhiệm. Số tiền cọc anh H2 trực tiếp chuyển cho chị qua số tài khoản của chị là 101128889999 tại Ngân hàng Q 02 lần, 01 lần chuyển 80.000.000 đồng, 01 lần chuyển 150.000.000 đồng, ngoài ra, anh H2 trực tiếp đưa cho chị 10.000.000 đồng tiền mặt. Như vậy, chị đã nhận đủ của anh H2 240.000.000 đồng tiền đặt cọc. Sau khi nhận cọc, do chị có việc bận nên chị D ký giấy tờ nhận cọc của anh H2, anh H2 có đưa căn cước công dân hay chứng minh nhân dân của người khác để chị D viết giấy tờ đặt cọc, khi chị hỏi thì anh H2 bảo viết tên ông anh cho may mắn. Khi các bên ký kết biên bản đặt cọc, do chị không có mặt nên chị không biết anh H2 hay ai ký biên bản đặt cọc. Cả quá trình thỏa thuận chuyển nhượng lô đất trên chị chỉ làm việc trực tiếp với anh H2, không làm việc với ai khác, chị không biết anh T, chị H1 là ai.
Sau khi chị T2 nhận được Thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất số LTB2111505-TK0000643/TB-CCT và Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB2111505-TK0000673/TB-CCT đều đề ngày 09/12/2021 của Chi cục thuế khu vực Q - H đối với lô đất chuyển nhượng cho anh H2, chị T2 đã chuyển các thông báo trên cho chị, chị mang giấy tờ ra Văn phòng công chứng Nguyễn Xuân T1 để Văn phòng làm trước các thủ tục ủy quyền giữa chị T2 và người mua đất, trong đó, phía người mua đất để trống để anh H2 điền tên anh H2 hay tên ai trong giấy ủy quyền thì tùy anh H2. Chị T2 đã ký ủy quyền tại Văn phòng công chứng Nguyễn Xuân T1, còn người mua đất thì chưa đến ký nhận ủy quyền, khi nào người nhận ủy quyền đến Văn phòng Công chứng ký Giấy ủy quyền thì Văn phòng Công chứng sẽ đóng dấu và giao lại cho người nhận ủy quyền. Sau đó, chị đã giao thông báo thuế, thông báo nộp tiền của lô đất trên cho chị T4 để chị T4 giao lại cho người mua đất. Chị T4 có nói lại với chị, chị T4 đã gọi điện cho anh H2 nhưng anh H2 nhờ chị T4 chụp ảnh 02 Thông báo trên cho anh H2 trước, khi nào nộp tiền anh H2 sẽ đến lấy sau. Chị không nhớ chính xác chị đưa 02 Thông báo nộp tiền sử dụng đất và Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà, đất đối với lô đất trên cho chị T4 khi nào, chị cũng không biết chính xác thời điểm chị T4 thông báo cho anh H2 khi nào nhưng chị khẳng định chị đưa thông báo cho chị T4 và chị T4 thông báo cho anh H2 trước hạn cuối cùng phải nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo 02 thông báo (ngày 07/01/2022) khoảng 15 ngày. Sau khi không giao được 02 thông báo trên cho anh H2, chị T4 đã chuyển lại cho chị. Hiện chị cũng không còn giữ 02 Thông báo này. Việc trao đổi, thông báo giữa chị và chị T4 được thực hiện bằng tin nhắn điện thoại và gọi điện trao đổi, không lập thành văn bản. Chị sẽ có trách nhiệm sao chụp lại các tin nhắn trao đổi giữa chị và chị T4 để cung cấp cho Tòa án. Do hết thời hạn nộp tiền sử dụng đất và nộp lệ phí trước bạ nhà đất đối với lô đất trúng đấu giá đấu giá số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình nhưng người mua đất không nộp tiền vào ngân sách nhà nước nên kết quả trúng đấu giá lô đất trên đã bị UBND huyện H hủy bỏ. Toàn bộ số tiền đặt cọc 140.000.000 đồng các chị đã đặt cọc khi tham gia đấu giá lô đất trên bị thu hồi nộp vào ngân sách nhà nước.
Đối với yêu cầu khởi kiện của anh T, chị H1, chị có ý kiến như sau: Chị đã thực hiện việc giao Thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất số LTB2111505-TK0000643/TB-CCT và Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB2111505-TK0000673/TB-CCT đều đề ngày 09/12/2021 của Chi cục thuế khu vực Q - H đối với lô đất trúng đấu giá đấu giá số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình cho chị T4 để chị T4 giao lại cho anh H2 theo đúng thỏa thuận khi nhận đặt cọc lô đất. Chị cũng không nhận tiền của anh T, chị H1 mà chỉ nhận tiền của anh H2. Do đó, chị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh T, chị H1.
Số tiền 140.000.000 đồng chị T2 là người nộp vào Ngân sách nhà nước để tham gia đấu giá lô đất số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Việc lập hội nhóm tham gia đấu giá đất giữa các chị chỉ là tự phát, không lập thành công ty hay tổ chức nào. Tòa án đã yêu cầu chị cung cấp họ tên, địa chỉ của những người cùng nhóm đấu giá đất nhưng chị không cung cấp được do hiện tại chị không nhớ cụ thể thông tin họ tên, địa chỉ của những người cùng góp vốn tham gia đấu giá quyền sử dụng đất. Chị, chị D, chị T2 là người trực tiếp thực hiện các giao dịch liên quan đến thửa đất số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Các chị sẽ có trách nhiệm trực tiếp tham gia tố tụng trong vụ án tranh chấp dân sự này. Trường hợp trong hội nhóm các chị có tranh chấp về các vấn đề liên quan đến thửa đất, các chị sẽ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án khác.
+ Văn phòng công chứng Nguyễn Xuân T1 trình bày:
Trong giấy ủy quyền, bên ủy quyền ông T3 và bà T2, bên ủy quyền là bà P và bà D tại Văn phòng công chứng Nguyễn Xuân T1, số chứng thực 793.1, quyển số 01 SCT/CK, ĐC đề ngày 08/12/2021, có dấu vết tẩy xóa, sửa chữa tại vị trí các chữa số “08”, “12”, “2021” là do sai sót của nhân viên văn phòng trong quá trình lập giấy ủy quyền. Văn phòng công chứng Nguyễn Xuân T1 khẳng định việc lập giấy ủy quyền tại Văn phòng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, đúng ngày 08/12/2021 thể hiện tại phiếu yêu cầu công chứng đề ngày 08/12/2021, Văn phòng cũng đã vào sổ công chứng của văn phòng bản ủy quyền trên trong sổ chứng thực 2021 lưu tại văn phòng. Trong tháng 12/2021, có người gửi hai thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất số LTB 211505 – TK 000643/TB –CCT và thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB 2111505 –TK 0000673/TB – CCT đều đề ngày 09/12/2021 của Chi cục thuế khu vực Q - H mang tên người nộp thuế chị T2 cho nhân viên văn phòng giữ hộ để có người đến lấy. Việc gửi này chỉ là tư cách cá nhân, nhân viên. Văn phòng cũng không nhớ ai là người gửi và có người đến lấy hay chưa vì thời gian đã lâu và thời điểm tháng 12/2021, lượng công việc của Văn phòng quá nhiều nên không nhớ được, việc gửi này chỉ mang tư cách cá nhân, không có giao nhận, không cam kết trách nhiệm, không liên quan đến văn phòng.
Đối với việc chị P trình bày chị P đã mang giấy tờ ra văn phòng để ở văn phòng làm các bước thủ tục ủy quyền giữa chị T2 và người mua đất, trong đó phía người mua đất để trống, chị T2 đã ký văn bản ủy quyền tại văn phòng còn người mua đất chưa đến ký nhận ủy quyền, khi người nhận ủy quyền đến văn phòng công chứng ký giấy ủy quyền thì văn phòng công chứng sẽ đóng dấu và giao lại cho người ủy quyền là không chính xác. Việc lập các văn bản công chứng, công chứng các văn bản được Văn phòng thực hiện đúng quy định của pháp luật, khách hàng có thể gửi tài liệu trước để Văn phòng soạn thảo văn bản ủy quyền nhưng việc ký công chứng văn bản ủy quyền phải có mặt các bên ủy quyền, bên nhận ủy quyền. Trường hợp này, chị T2, anh T3 chưa gửi các giấy tờ để văn phòng soạn thảo văn bản ủy quyền giữa chị T2 và anh T3 cho anh H2, anh T hay chị H1, văn phòng chỉ làm chứng thực ủy quyền giữa chị T2, anh T3 cho chị P, chị D theo Giấy ủy quyền ngày 08/12/2021; số chứng thực 793.1, quyển số 01SCTICK,DC.
Đối với yêu cầu khởi kiện của anh T, Văn phòng đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Những người làm chứng trình bày:
+ Chị Lê Thị Thanh T2 khai: Chị là người trực tiếp tham gia đấu giá và trúng lô đất LO-04 số 2 tại thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 08/12/2021. Sau đó chị đã ủy quyền lại cho chị P và chị D được toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến lô đất trên. Trường hợp chị P và chị D bán được lô đất trên thì sẽ liên hệ với vợ chồng anh chị để làm thủ tục. Việc ủy quyền đã được lập thành văn bản tại Văn phòng C. Sau đó chị P, chị D có thông báo cho chị là đã bán được lô đất trên cho khách và nhận tiền cọc của khách. Chị không biết khách mua là ai vì đã ủy quyền toàn bộ việc giao dịch lô đất cho chị P, chị D. Khi nhận được thông báo thuế để đóng tiền trúng đấu giá lô đất cho nhà nước thì chị đã liên lạc và thông báo cho chị P, chị D để báo khách đóng tiền đúng ngày. Nhưng sau ngày 07/01/2022 (hạn cuối nộp tiền) khoảng 2, 3 ngày, chi cục thuế khu vực Q1 thông báo cho chị do không đóng tiền trúng đấu giá lô đất trên nên bị hủy kết quả và hủy tiền cọc.
+ Anh Nguyễn Duy H2 trình bày:
Anh và vợ chồng anh T, chị H1 có quen biết từ trước (anh T dạy lái xe cho anh). Ngày 08/12/2021, được biết tại xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình có tổ chức đấu giá đất nên anh và anh T rủ nhau xuống xem. Sau khi có kết quả trúng đấu giá buổi sáng, anh T muốn tìm mua một lô đất và trao đổi với anh. Lúc này, chị T4 chào bán đất với anh nên anh đã giới thiệu cho anh T. Trước đó, anh không quen biết chị T4, anh chỉ gặp chị T4 ở buổi đấu giá đất do chị T4 đến chào bán đất cho anh. Anh Trung trực t làm việc với chị T4 và ký kết đặt cọc với nhóm chị T4, chị D, anh bận đi xem đấu giá các lô đất khác nên không trực tiếp chứng kiến. Khi các bên giao dịch thanh toán tiền, do anh T không mang theo tiền mặt nên chị H1 (vợ anh T) ở nhà có nhờ số tài khoản 1017765820 của anh mang tên H2 tại Ngân hàng TMCP N1 để chuyển tiền đặt cọc. Sau khi nhận tiền từ chị H1, theo thỏa thuận giữa anh T và chị D, anh chuyển 230.000.000 đồng vào số tài khoản 101128889999 tại Ngân hàng Q, chủ tài khoản Nguyễn Thị P, số tiền trên anh chuyển thành 02 lần, 01 lần 80.000.000 đồng, 01 lần 150.000.000 đồng. Ngoài ra, buổi chiều chị H1 trực tiếp xuống và đưa cho anh 10.000.000 đồng tiền mặt để anh chuyển lại cho chị P. Trước đó, anh cũng không hề quen biết chị P.
Việc mua bán, chuyển nhượng đất anh Trung trực t làm việc với chị D, chị T4, anh không biết mà chỉ thực hiện chuyển tiền hộ, anh cũng không được hưởng lợi gì từ giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên. Anh chỉ biết anh T mua lô đất số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Khi gặp nhau vào ngày 08/12/2021, anh và chị T4 có xin số nhau để tiện trao đổi. Trước ngày 23/12/2021, chị T4 có gửi cho anh ảnh chụp Thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất số LTB2111505-TK0000643/TB-CCT và Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB2111505-TK0000673/TB-CCT đều đề ngày 09/12/2021 của Chi cục thuế khu vực Q - H đối với lô đất chuyển nhượng cho anh T để anh thông báo lại cho anh T. Ngày 23/12/2021, anh đã chuyển tiếp ảnh chụp 02 thông báo trên từ tin nhắn của chị T4 với anh cho vợ chồng anh T, chị H1. Anh T, chị H1 đã biết về nghĩa vụ nộp tiền vào ngân sách nhà nước đối với lô đất trên và còn nhờ anh nếu tìm được khách mua thì giới thiệu cho anh T, chị H1. Anh cũng có nhờ chị T4 tìm khách mua lô đất trên cho anh T, chị H1. Do không tìm được khách mua nên đến ngày 09/01/2022, anh T, chị H1 mang tiền để nộp vào ngân sách nhà nước, theo hướng dẫn của chị T4, anh cùng với anh T, chị H1 đến Văn phòng Công chứng Nguyễn Xuân T1 để lấy các Thông báo nộp tiền sử dụng đất và Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ đi nộp tiền. Ngày 09/01/2022, anh T, chị H1 đã nhận Thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất số LTB2111505-TK0000643/TB-CCT và Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB2111505-TK0000673/TB-CCT đều đề ngày 09/12/2021 của Chi cục thuế khu vực Q - H tại Văn phòng C. Ngoài ra, anh chị không nhận tài liệu nào khác. Khi mang thông báo đến cơ quan thuế để nộp tiền, do ngày 09/01/2022 là ngày nghỉ nên cơ quan thuế không làm việc. Hôm sau, anh T, chị H1 đến nộp tiền được thông báo đã hết thời hạn nộp tiền sử dụng đất và nộp thuế đối với thửa đất nhận chuyển nhượng. Khi chuyển 02 Thông báo nộp tiền cho anh T, chị H1, anh thông báo với anh chị hạn cuối nộp tiền là ngày 09/01/2022 là do thông thường đối với các lô đất trúng đấu giá, thời hạn nộp tiền và nộp thuế là 30 ngày kể từ ngày ban hành thông báo. Ngày ban hành 02 thông báo trên là ngày 09/12/2021, do đó, anh ước khoảng thời gian nộp tiền cuối cùng là 09/01/2022 và thông báo cho anh T, chị H1 mà không để ý ngày 09/01/2022 là ngày nghỉ cuối tuần nên đối với lô đất trên, cơ quan thuế quy định thời hạn nộp tiền cuối cùng là ngày 07/01/2022. Tuy nhiên, anh đã gửi cả 02 Thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất số LTB2111505-TK0000643/TB-CCT và Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB2111505-TK0000673/TB-CCT đều đề ngày 09/12/2021 của Chi cục thuế khu vực Q - H cho anh T qua tin nhắn zalo, anh T, chị H1 đã đọc thông báo và còn nhờ anh tìm khách mua đất. Do đó, việc anh T trình bày anh chị không biết được 02 Thông báo là không chính xác.
Đối với yêu cầu khởi kiện của anh T, chị H1, anh nhất trí do tại thời điểm ngày 09/01/2022, anh T, chị H1 chưa nhận được văn bản ủy quyền và cũng không được ký văn bản nhận ủy quyền nộp tiền sử dụng đất và nộp thuế trước bạ nhà đất đối với lô đất trúng đấu giá số LO-D4 (Lô số 02), tờ bản đồ số 08 tại khu Đ, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình từ bất kỳ ai.
- UBND xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình cung cấp:
Ngày 08/12/2021, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh T tổ chức đấu giá quyền sử dụng 56 lô đất tại khu D, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Tại buổi đấu giá trên, bà Lê Thị Thanh T2 tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình đã trúng đấu giá Lô số 02, dãy LO –D4, tờ bản đồ số 08, khu dân cư Đồng B, thôn V, xã C. Sau khi trúng đấu giá, lô đất này, tổng số tiền trúng đấu giá quyền sử dụng đất bà T2 phải nộp là 938.140.000 đồng, trong đó số tiền sử dụng đất đã nộp đặt trước là 140.000.000 đồng, thời hạn nộp tiền sử dụng đất là ngày 07/01/2022, thời hạn nộp lệ phí trước bạ nhà, đất là 30 ngày kể từ ngày 09/12/2021. Hết thời hạn theo quy định, bà T2 không nộp tiền sử dụng đất và thuế, phí theo quy định nên ngày 10/01/2022, UBND huyện H đã ban hành Quyết định 112/QĐ-UBND về việc hủy kết quả trúng đấu giá lô đất số 02-LO-D4 thuộc khu đất quy hoạch điểm dân cư tại xã C mà bà T2 đã trúng đấu giá ngày 08/12/2021. Đối với bà T2, khi kết quả trúng đấu giá bị hủy, tiền sử dụng đất 140.000.000 đồng đã nộp trước bị thu hồi nộp vào ngân sách nhà nước.
- Tại Công văn số 8651/CVTKV-TTTBTK ngày 26/10/2023, Chi cục thuế khu vực Q2 - H cung cấp:
Căn cứ kết quả trúng đấu giá đất, Chi nhánh Văn phòng Đ có phiếu chuyển thông tin đến cơ quan thuế để ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất. Các thông tin trên thông báo thuế do cơ quan thuế ban hành là căn cứ từ phiếu chuyển thông tin của chi nhánh văn phòng Đ (người nộp tiền sử dụng đất là người trúng đấu giá đất). Người nộp thuế căn cứ vào thông báo của Cơ quan thuế thực hiện nộp tiền vào ngân sách nhà nước tại các ngân hàng thương mại được kho bạc nhà nước huyện H ủy nhiệm thu. Thông tin về mục lục ngân sách, tài khoản thu ngân sách, mã địa bàn, tên cơ quan quản lý thu, mã cơ quan thu, số tiền phải nộp, tên người nộp, mã số thuế, địa chỉ người nộp thuế, thông tin về thửa đất, thời hạn nộp tiền, đều được thể hiện đầy đủ trên thông báo của cơ quan thuế. Trường hợp Người nộp thuế trực tiếp nộp tiền tại Ngân hàng được ủy nhiệm thu, Ngân hàng sẽ hướng dẫn người nộp thuế ghi các thông tin theo mẫu C1-02/NS ban hành kèm theo Thông tư số 84/2016/TT-BTC ngày 17/6/2016 của Bộ T5 trước khi nộp tiền vào Ngân sách.
- Tại Công văn số 3408/NHNN.TB-KTNB ngày 20/11/2023, Ngân hàng N2 - Chi nhánh T6 cung cấp:
- Tại C, mục 2, Điều 9, khoản 1 của thông tư hướng dẫn thủ tục nộp thu ngân sách nhà nước đối với các khoản thuế và thu nội địa số 84/2016/TT-BTC ngày 17/6/2016 của Bộ T5 quy định: Trường hợp tổ chức cá nhân...
- Trong trường hợp đi nộp tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ nhà đất vào tài khoản thu ngân sách tại Ngân hàng, cá nhân tổ chức phải mang kèm theo thông báo nộp tiền bản chính của Cơ quan thuế, Ngân hàng có giữ lại thông báo nộp tiền bản chính của cơ quan thuế.
- Tại Công văn số 2093/BIDV.TB-QLRR ngày 21/11/2023, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 - Chi nhánh T6 cung cấp:
- Tổ chức, cá nhân lựa chọn phương thức nộp tiền vào tài khoản thu của cơ quan thuế mở tại ngân hàng TMCP Đ1: Bất kỳ cá nhân nào cũng có thể nộp thay tiền thuế cho người nộp thuế (người nộp thuế là người có tên trên thông báo thuế). Trong trường hợp này trên giấy nộp tiền vào ngân sách sẽ thể hiện thông tin của người nộp thay và cả người nộp thuế. Người nộp thay phải xuất trình giấy tờ tùy thân kèm bản gốc thông báo nộp tiền thuế xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Khi tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục nộp tiền vào tài khoản thu của cơ quan thuế mở tại Ngân hàng TMCP Đ1 cần xuất trình bản gốc thông báo nộp thuế. B thực hiện lưu bản gốc thông báo nộp thuế này trong báo cáo cuối ngày...
- Tại Công văn số 583/CV-CNTHB-TH ngày 27/11/2023, Ngân hàng thương mại cổ phần C1 - Chi nhánh T6 cung cấp:
“... Khi đến nộp tiền, phải xuất trình bản gốc “Thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất”; “Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà đất” bản có mã vạch, Ngân hàng giữu lại bản gốc...”
- Tại Công văn số 71/CV-CNTHB-TH ngày 27/11/2023, Ngân hàng thương mại cổ phần N1 - Chi nhánh T6 cung cấp:
Khách hàng cá nhân có nhu cầu nộp tiền vào tài khoản thu của Cơ quan thuế tại V cần xuất trình giấy tờ tùy thân còn hiệu lực (CMND/CCCD...) và thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất, thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất; V sẽ thu lại bản chính.
- Tại bản Kết luận giám định số 1262/KL-KTHS ngày 31/8/2023 kết luận: “Có dấu vết tẩy xóa, sửa chữa tại vị trí các chữ số: “08”. “12”, “2021” trong dòng chữ “Hôm nay, ngày 08 tháng 12 năm 2021; tại văn phòng C, số B L, phường K, thành phố T. Chúng tôi gồm: “tại trang 1 trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A). Không xác định được nội dung trước khi bị tẩy xóa, sửa chữa”.
Bản án số 19/2023/DS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 161, Điều 162, khoản 1 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 117, Điều 122, Điều 123, Điều 275, Điều 292, Điều 293, Điều 328, Điều 351, Điều 353, Điều 356, Điều 357, Điều 358, Điều 360, Điều 361, Điều 407, Điều 419, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T về việc yêu cầu tuyên bố Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021 giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị D vô hiệu.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T, buộc chị Nguyễn Thị D phải trả anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị H1 240.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu đồng) và tiền lãi của số tiền 240.000.000 đồng với lãi suất 10%/năm, số tiền lãi chị D phải trả anh T, chị H1 kể từ 08/01/2022 đến 14/12/2023 là 46.400.000 đồng. Tổng số tiền chị Nguyễn Thị D phải trả anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị H1 là 286.400.000 đồng (hai trăm tám mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/12/2024 và ngày 01/02/2024, chị Nguyễn Thị D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bỏ Biên bản đặt cọc lập ngày 08/12/2021 do anh T không thanh toán số tiền theo thỏa thuận; không chấp nhận việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị D phải trả anh T chị H1 số tiền 240.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền trên kể từ ngày 08/01/2022 đến ngày 14/12/2023 với lãi suất 10%/năm, tổng tiền lãi là 46.000.000 đồng do chị D không nhận tiền của anh T chị H1; không đồng ý chịu án phí dân sự sơ thẩm là 14.300.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn giữ nguyên trình bày của mình.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng; các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của chị D, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của chị D làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, do đó được thụ lý và đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, vắng mặt chị P, văn phòng công chứng Nguyễn Xuân T1 và những người làm chứng, tuy nhiên họ đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của chị D đối với bản án sơ thẩm: Chị D kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bỏ Biên bản đặt cọc lập ngày 08/12/2021 do anh T không thanh toán số tiền theo thỏa thuận; không chấp nhận việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị D phải trả anh T chị H1 số tiền 240.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền trên kể từ ngày 08/01/2022 đến ngày 14/12/2023 với lãi suất 10%/năm, tổng tiền lãi là 46.000.000 đồng do chị D không nhận tiền của anh T chị H1; không đồng ý chịu án phí dân sự sơ thẩm là 14.300.000 đồng.
[2.1] Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 08/12/2021, anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị D đã ký kết biên bản đặt cọc, theo đó, anh T đặt cọc cho chị Duyên số tiền 240.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 140m² đất thửa đất số: Dãy LO-D4 (lô số 2); địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Thửa đất này do chị Lê Thị Thanh T2 là người trúng đấu giá quyền sử dụng đất thửa đất trên trong buổi đấu giá ngày 08/12/2021 do Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh T tổ chức. Anh T cho rằng chị D không có quyền ký kết biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021 do Giấy ủy quyền lập ngày 08/12/2021 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Xuân T1 giữa chị T2, anh T3 và chị D, chị P không có giá trị, có dấu hiệu sửa chữa phần ngày, tháng, năm. Tại Kết luận giám định số 1262/KL-KTHS ngày 31/8/2023, Phòng K Công an tỉnh T đã kết luận: “Có dấu vết tẩy xóa, sửa chữa tại vị trí các chữ số: “08”. “12”, “2021” trong dòng chữ “Hôm nay, ngày 08 tháng 12 năm 2021; tại văn phòng C, số B L, phường K, thành phố T. Chúng tôi gồm:...” tại trang 1 trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A). Không xác định được nội dung trước khi bị tẩy xóa, sửa chữa”. Tuy nhiên, tại trang 3 của Giấy ủy quyền này, phần lời chứng của Công chứng viên ghi rõ ngày công chứng là 08/12/2021 bằng số và bằng chữ, phần vào số chứng thực cũng là ngày 08/12/2021. Như vậy, có căn cứ xác định việc sửa chữa ngày tháng năm tại trang 1 của Giấy ủy quyền là do sai sót trong quá trình soạn thảo văn bản công chứng, phù hợp với lời khai của Văn phòng Công chứng Nguyễn Xuân T1 và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Giấy ủy quyền lập ngày 08/12/2021 giữa vợ chồng chị T2, anh T3 và chị P, chị D tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Xuân T1 là hợp pháp, ngày lập Giấy ủy quyền là ngày 08/12/2021 là có căn cứ. Do đó, việc chị D ký kết Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021 với anh Nguyễn Văn T là phù hợp quy định của pháp luật.
[2.2] Về nội dung của Biên bản đặt cọc: Biên bản đặt cọc này được các bên lập để đảm bảo giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất LO-D4 (lô số 2) tại thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Theo thỏa thuận, anh T đặt cọc số tiền 240.000.000 đồng để đảm bảo thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất lô đất trên, ngoài ra, các bên có thỏa thuận quyền, nghĩa vụ của mỗi bên giao kết hợp đồng đặt cọc. Anh T đã giao đủ số tiền đặt cọc 240.000.000 đồng, chị D, chị P đã nhận đủ. Như vậy, nội dung Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021 giữa anh T và chị D là phù hợp quy định của pháp luật.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021 được giao kết đúng quy định của pháp luật, do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị D về việc hủy bỏ Biên bản đặt cọc lập ngày 08/12/2021 do anh T không thanh toán số tiền theo thỏa thuận.
[2.3] Ngày 08/12/2021, vợ chồng anh T, chị H1 đã thanh toán đủ số tiền đặt cọc 240.000.000 đồng theo Biên bản đặt cọc các bên đã ký kết. Tuy nhiên, chị D, chị P mới chỉ gửi ảnh chụp 02 thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất số LTB 211505-TK 000643/TB-CCT và thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB 2111505-TK 0000673/TB-CCT đều đề ngày 09/12/2021 của Chi cục thuế khu vực Q - H qua tin nhắn zalo cho chị T4, chị T4 chuyển cho anh H2, anh H2 chuyển ảnh cho anh T. Đến ngày 07/01/2022 là ngày cuối cùng phải nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo 02 thông báo, anh T, chị H1 chưa nhận được bản chính 02 thông báo trên. Trong khi theo quy định, trong trường hợp tổ chức, cá nhân đi nộp tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ nhà đất vào tài khoản thu ngân sách tại Ngân hàng, cá nhân tổ chức phải mang kèm theo thông báo nộp tiền bản chính của Cơ quan thuế, Ngân hàng có giữ lại thông báo nộp tiền bản chính của cơ quan thuế. Vì thế, anh T không thực hiện được việc nộp tiền vào ngân sách nhà nước trong thời hạn luật định theo các Thông báo của cơ quan thuế.
[2.4] Tòa án cấp sơ thẩm xác định chị D đã vi phạm nghĩa vụ chuyển thông báo nộp tiền cho anh T theo hợp đồng đã ký kết dẫn đến việc anh T không thể thực hiện đúng và đủ các nghĩa vụ của nhà nước thay cho chị D, từ đó buộc chị D phải trả lại cho anh T tài sản đặt cọc là số tiền 240.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong vụ án này anh T cũng có một phần lỗi. Chị Lê Thị Thanh T2 là người trúng đấu giá quyền sử dụng đất thửa đất trên ngày 08/12/2021, tuy nhiên, anh T không liên hệ và thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với chị T2 mà lại giao dịch với chị D, trong khi trước đó không quen biết chị D, cũng chỉ qua lời nói và Giấy ủy quyền có dấu hiệu sửa chữa; thửa đất này chưa được cơ quan có thẩm quyền giao đất cho người trúng đấu giá, chưa có Quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá mà đã chuyển toàn bộ số tiền 240.000.000 đồng cho chị D trong ngày 08/12/2021. Mặt khác, khi nhận được các Thông báo nộp tiền sử dụng đất và Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất vào ngày 23/12/2021, anh T không kiểm tra lại thông tin trên các Thông báo này để xác định có phải đúng đối tượng mình giao dịch hay không, thời hạn thế nào, không yêu cầu được nhận ngay bản chính của các Thông báo này để thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy lỗi của anh T và chị D trong trường hợp này là 50:50, chị D chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình theo Điều 363 Bộ luật Dân sự năm 2015 (tương ứng với 1/2 số tiền đã nhận cọc từ anh T là 120.000.000 đồng). Do lỗi của các bên là 50:50 nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T về việc buộc chị D phải trả lãi đối với số tiền 240.000.000 đồng phát sinh từ ngày 08/12/2021 đến khi trả xong.
[2.5] Tại giai đoạn phúc thẩm, không đương sự nào giao nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Từ những phân tích đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm là phù hợp.
[3] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của chị D được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 24; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
I. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị D, sửa bản án sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Cụ thể:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 161, Điều 162, khoản 1 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 117, Điều 122, Điều 123, Điều 275, Điều 292, Điều 293, Điều 328, Điều 351, Điều 353, Điều 356, Điều 357, Điều 358, Điều 360, Điều 361, Điều 363, Điều 407, Điều 419, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T về việc yêu cầu tuyên bố Biên bản đặt cọc ngày 08/12/2021 giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị D vô hiệu.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T: Buộc chị Nguyễn Thị D phải trả anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị H1 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T về việc buộc chị Nguyễn Thị D phải trả anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị H1 tiền lãi của số tiền 240.000.000 đồng theo mức lãi suất, thời gian trả lãi theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.
- Về án phí và chi phí tố tụng:
- Về án phí:
- Chị Nguyễn Thị D phải nộp 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Nguyễn Văn T phải nộp 6.300.000 đồng (sáu triệu, ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền 3.000.000 đồng anh T đã nộp tạm ứng án phí tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001347 ngày 02/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí. Anh Nguyễn Văn T còn phải nộp 3.300.000 đồng (ba triệu ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng:
- Chị Nguyễn Thị D phải hoàn trả anh Nguyễn Văn T số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng) chi phí trưng cầu giám định anh T đã nộp tạm ứng.
- Trả lại anh Nguyễn Văn T số tiền 8.300.000 đồng (tám triệu ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng còn thừa (đã trả xong).
II. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại chị Duyên số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0001151 ngày 02/2/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 09/7/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thế Tương |
Bản án số 29/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 29/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Nguyễn Thị D
