|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày 09-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thành Trung;
2. Ông Nguyễn Trần Quyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự (điểm cầu Trung tâm) và Trại tạm giam Công an tỉnh A (điểm cầu thành phần), tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS, ngày 20 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Võ Thành Đ, sinh ngày 30/4/1999 tại An Giang; nơi cư trú: Tổ A, khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Võ Văn Đ1, sinh năm 1975 và bà Dương Thị M, sinh năm 1981; vợ, con: Chưa có; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; tiền sự, tiền án: Chưa có; nhân thân: Ngày 26/4/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 05 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 26/4/2024, án chưa có hiệu lực pháp luật); tạm giữ, tạm giam: Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh An Giang từ ngày 05/11/2023 (hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A để chờ xét xử phúc thẩm đối với Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 26/4/2024, bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Huỳnh Khánh H, sinh ngày 01/01/1970 (có mặt);
2
Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn N, sinh ngày 01/01/1970 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Người làm chứng: Huỳnh Quốc V, sinh ngày 28/12/1978 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
Tại điểm cầu trung tâm, gồm có: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa; bị hại Huỳnh Khánh H.
Tại điểm cầu thành phần, gồm có: Bị cáo Võ Thành Đ; cán bộ hỗ trợ tư pháp: Đồng chí Lương Văn Q và Lê Văn S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài nên Võ Thành Đ đã dùng thủ đoạn gian dối thuê người giả làm người thân để tạo lòng tin của bị hại và chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Khoảng 09 giờ, ngày 29/10/2023, Võ Thành Đ đi đến khu vực bến phà T, thuộc thị xã T, tỉnh An Giang, thấy ông Nguyễn Văn N đang hành nghề bán vé số và chạy xe Honda đò (xe ôm), Đ thuê ông N chở qua địa bàn thành phố H mua xe mô tô và hứa mua vé số, trả tiền thuê xe là 500.000 đồng thì ông N đồng ý. Nở điều khiển xe mô tô loại Wave màu đỏ, biển số 66P2-008.98 chở Đ đến địa bàn huyện H thì giao xe mô tô cho Đ tiếp tục điều khiển. Khoảng 10 giờ thì đến tiệm kinh doanh mua bán xe mô tô của ông Huỳnh Khánh H, sinh năm 1970, ngụ khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Khi đến đây, Đ giả vờ hỏi mua xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 66G1-325.59 và thỏa thuận giá mua bán là 27.000.000 đồng.
Sau khi thoả thuận giá mua bán xong, Đ yêu cầu ông H cho chạy thử xe nhưng ông H không đồng ý. Do Đ có ý thức chiếm đoạt tài sản từ trước nên Đ nói dối là “có cha ruột tôi” (tức ông Nguyễn Văn N) ngồi đợi nên ông H tưởng thật nên đồng ý cho Đ chạy thử xe. Sau khi có được xe, Đ điều khiển chạy về thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, cất giấu. Đến ngày 30/10/2023, Đ điều khiển xe mô tô đến tiệm cầm đồ Quốc Viễn tại chợ P, huyện P, An Giang do anh Huỳnh Quốc V là chủ tiệm, cầm cố số tiền là 5.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
3
Ngoài ra, Võ Thành Đ còn khai nhận vào ngày 23/01/2024, Đ tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo tương tự tại địa bàn thành phố C nên bị Công an thành phố C, tỉnh An Giang bắt giữ điều tra làm rõ. Hiện vụ việc đã được Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xét xử (xử phạt Đ 05 năm tù vào ngày 26/4/2024).
Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 029092; nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, màu sơn đen - đỏ, số máy G3E6E0248619, số khung 0710HK174358, trên giấy có ghi biển kiểm soát: 66G1-325.59, tên chủ xe Huỳnh Khánh H, sinh năm: 1970, địa chỉ: A - A - TXHN - ĐT, đăng ký lần đầu ngày 24/02/2017.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 17/KL-HĐĐG, ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H. Kết luận: Giá trị 01 (một) xe mô tô biển số 66G1-325.59, nhãn hiệu yamaha, số loại Jupiter, màu sơn đen - đỏ, đã qua sử dụng là: 15.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án thu giữ, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho bị hại Huỳnh Khánh H: 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 029092; nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, màu sơn đen - đỏ, số máy G3E6E0248619, số khung 0710HK174358, trên giấy có ghi biển kiểm soát: 66G1-325.59, tên chủ xe Huỳnh Khánh H, sinh năm: 1970, địa chỉ: A - A - TXHN - ĐT, đăng ký lần đầu ngày 24/02/2017.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại Huỳnh Khánh H yêu cầu Võ Thành Đ bồi thường 15.000.000 đồng, Đ đồng ý nhưng chưa thực hiện việc bồi thường.
Trong quá trình điều tra, Võ Thành Đ đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện.
Tại Cáo trạng số: 31/CT-VKSTPHN, ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Võ Thành Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Võ Thành Đ đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Thành Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thành Đ mức hình phạt từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
4
Đối với việc Võ Thành Đ thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang. Khi khởi tố vụ án, bị can đối với Võ Thành Đ, Cơ quan điều tra Công an thành phố H có văn bản đề nghị chuyển vụ án của Võ Thành Đ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C thụ lý giải quyết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C có Văn bản số: 218/CSĐT, ngày 02/5/2024 thông báo về việc vụ án tại thành phố C đã kết thúc điều tra, Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án đã xét xử (Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 26/4/2024, án chưa có hiệu lực pháp luật), nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Đối với việc Nguyễn Văn N được Võ Thành Đ thuê xe nhưng không biết Đ thực hiện hành vi lừa đảo, không hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của Võ Thành Đ. Do đó không đủ căn cứ xử lý Nguyễn Văn N với vai trò đồng phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Đối với việc Võ Thành Đ khai nhận sau khi lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô biển số 66G1-325.59, nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, màu sơn đen - đỏ, Đ mang đến cầm cho anh Huỳnh Quốc V. Qua Điều tra viên không thừa nhận cầm xe của Đ, không thu hồi được xe, ngoài lời khai của Đ không còn chứng cứ nào khác, do đó không đặt ra để xem xét xử lý hành vi của Huỳnh Quốc V nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc xe mô tô biển số 66G1-325.59 nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, màu sơn đen- đỏ mà bị cáo chiếm đoạt của anh Huỳnh Khánh H, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được, bị hại Huỳnh Khánh H yêu cầu bị cáo bồi thường theo giá Hội đồng định giá đã định là 15.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường cho anh H số tiền trên nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thành Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị hại Huỳnh Khánh H yêu cầu xử lý hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định pháp luật; về trách nhiệm dân sự, yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe bị chiếm đoạt theo giá của Hội đồng định giá tài sản là 15.000.000 đồng.
5
Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý bồi thường cho bị hại Huỳnh Khánh H số tiền 15.000.000 đồng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thành Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp nhưng lại muốn nhanh có tiền để tiêu xài, bị cáo đã nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của người khác. Để thực hiện ý định trên, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối, nói dối với bị hại Huỳnh Khánh H là muốn mua xe mô tô và yêu cầu ông H giao xe để chạy thử. Do tin tưởng nên ông H đã giao xe cho Đ và khi được ông H giao xe thì bị cáo chiếm đoạt và đem xe đi cầm với số tiền 5.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 17/KL-HĐĐG, ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H. Kết luận: Giá trị 01 (một) xe mô tô biển số 66G1-325.59, nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, màu sơn đen - đỏ, đã qua sử dụng là 15.000.000 đồng.
Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo; lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Võ Thành Đ đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.
6
Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình tội phạm liên quan đến quyền sở hữu về tài sản trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền sự tiền án, nhưng do không có nghề nghiệp nhưng lại muốn nhanh có tiền tiêu xài mà bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức trong tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.
[6] Đối với việc Võ Thành Đ thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang. Khi khởi tố vụ án, khởi tố vụ án bị can Võ Thành Đ, Cơ quan điều tra Công an thành phố H có văn bản đề nghị chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C thụ lý giải quyết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C có văn bản số: 218/CSĐT, ngày 02/5/2024 thông báo về việc vụ án tại thành phố C đã kết thúc điều tra, Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án đã xét xử (Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 26/4/2024, án chưa có hiệu lực pháp luật), nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[7] Đối với việc Nguyễn Văn N được Võ Thành Đ thuê xe nhưng không biết Đ
7
thực hiện hành vi lừa đảo, không hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của Võ Thành Đ. Do đó không đủ căn cứ xem xét xử lý Nguyễn Văn N với vai trò đồng phạm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[8] Đối với việc Võ Thành Đ khai nhận sau khi lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô biển số 66G1-325.59, nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, màu sơn đen - đỏ, Đ mang đến cầm cho anh Huỳnh Quốc V. Qua điều tra, V không thừa nhận cầm xe của Đ, không thu hồi được xe, ngoài lời khai của Đ không còn chứng cứ nào khác, do đó không đặt ra để xem xét xử lý hành vi của Huỳnh Quốc V nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[9] Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:
Đối với chiếc xe mô tô biển số 66G1-325.59 nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, màu sơn đen- đỏ mà bị cáo chiếm đoạt của anh Huỳnh Khánh H, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được, bị hại Huỳnh Khánh H yêu cầu bị cáo bồi thường theo giá Hội đồng định giá đã định 15.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường cho anh H số tiền trên, xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại và phù hợp pháp luật nên hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[11] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Võ Thành Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Thành Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam: Ngày 05/11/2023.
8
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự
Buộc bị cáo Võ Thành Đ phải bồi thường thiệt hại tài sản cho bị hại Huỳnh Khánh H số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Võ Thành Đ phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 950.000 đồng (chín trăm năm mươi nghìn đồng).
4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho đến khi thi hành án xong.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/7/2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
