Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/5/2024

 

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tấn Triều
  2. Ông Trần Ngọc Bích

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 123/2024/TLST-HN ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2024/QĐXX-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Anh T, sinh năm 1999

ĐKTT: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ

Bị đơn: Ông Phạm Hoàng T1, sinh năm 1997

ĐKTT: 203 N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2024 và bản tự khai nguyên đơn – bà Lê Thị Anh T trình bày:

Bà và ông Phạm Hoàng T1 tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường A, quận N, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2018. Quá trình chung sống giữa ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn nên đến năm 2020 thì sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T1. Trong thời gian chung sống bà T và ông T1 có 01 con chung tên Phạm Thị Bình P (nữ) sinh ngày 02/3/2018. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Bà và ông T1 không có tài sản chung và không có nợ chung.

Bị đơn – ông Phạm Hoàng T1 trình bày về thời điểm tiến đến hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung có nội dung như bà T trình bày. Mặc dù trình bày trong quá trình chung sống giữa ông và bà T không có mâu thuẫn gì nhưng ông cùng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T. Ông đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục nhưng có nguyện vọng sau này khi có điều kiện thì ông xin được trực tiếp nuôi con.

Do bà T và ông T1 cùng có đề nghị vắng mặt trong quá Tòa án giải quyết vụ kiện nên vụ kiện thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại phiên tòa: Bà T và ông T1 vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Lê Thị Anh T và ông Phạm Hoàng T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường A, quận N, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 05/2018 ngày 12/01/2018 nên là hôn nhân hợp pháp. Bà Lê Thị Anh T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Hoàng T1 nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn”, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Lê Thị Anh T và ông Phạm Hoàng T1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông T1.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Anh T:

Theo bà Lê Thị Anh T trình bày thì trong quá trình chung sống giữa bà và ông Phạm Hoàng T1 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống không được hạnh phúc. Do đó, ông bà đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy, hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1. Ông Phạm Hoàng T1 cũng thống nhất với yêu cầu ly hôn của bà T mặc dù ông trình bày quá trình chung sống vợ chồng ông không có mâu thuẫn gì. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau. Tuy nhiên, bà T và ông T1 đã sống ly thân, ông T1 cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa bà T và ông T1 mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà T và ông T1 trình bày có 01 con chung tên Phạm Thị Bình P (nữ) sinh ngày 02/3/2018. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Ông T1 cũng thống nhất với yêu cầu này của bà T và có nguyện vọng khi có điều kiện ông muốn được trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, giữa bà T và ông T1 đã thống nhất được người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nên ghi nhận. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con được pháp luật quy định cho cha, mẹ trực tiếp nuôi con và cha mẹ không trực tiếp nuôi con để bảo vệ lợi ích mọi mặt của con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Đồng thời, pháp luật cũng quy định việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung là quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông T1 trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp và có đơn kiện sẽ được xem xét giải quyết thành vụ kiện khác.

[3] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân Sự;
  • - Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Lê Thị Anh T.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Anh T được ly hôn với ông Phạm Hoàng T1.
    • - Về con chung: Bà Lê Thị Anh T và ông Phạm Hoàng T1 có 01 con chung tên Phạm Thị Bình P (nữ) sinh ngày 02/3/2018. Ông bà thống nhất giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
    • Việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung là quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, không ai có quyền ngăn cản.
    • Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp và có đơn kiện sẽ được xem xét giải quyết thành vụ kiện khác.
  2. Về án phí: Bà Lê Thị Anh T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, cấn trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0000973 ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thì bà T đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Lê Thị Anh T và ông Phạm Hoàng T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSNDQNK;
  • - CCTHADSQNK;
  • - UBND P. A,
  • - Q . N, TP . Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà T khởi kiện ông T1 yêu cầu ly hôn và yêu cầu được nuôi con.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger