TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH L | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST Ngày 08 - 08 - 2024 V/v: “Kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Hòa
2. Ông Nguyễn Xuân Hùng
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý - Thư ký Toà án nhân dân huyện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 08/08/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, Toà án nhân dân huyện B, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 36/2024/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 05 năm 2024 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 07 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2024/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lý A - Sinh năm 1985
Địa chỉ: thôn N, xã C, huyện B, tỉnh L.(vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Lý Thị H - Sinh năm 1998
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện B, tỉnh L. (vắng mặt)
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của anh Lý A: Bà Đỗ Thị Lan Oanh - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lý A trình bày: Anh Lý A và chị Lý Thị H có đăng ký kết hôn ngày 24/03/2017 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh L. Sau khi kết hôn anh Lý A và chị Lý Thị H chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do chị Lý Thị H tiêu sài chi tiêu không có sự tính toán, không chú tâm việc gia đình nuôi dạy con cái dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Đầu tháng 4/2023 chị Lý Thị H tự ý đi làm việc ở nơi khác không bàn bạc với gia đình, từ đó anh Lý A và chị Lý Thị H sống ly thân không ai quan tâm đến ai cả về tình cảm cũng như kinh tế. Đến nay anh Lý A xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Lý A được ly hôn chị Lý Thị H.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống anh Lý A và chị Lý Thị H có 02 người con chung cháu Lý Ngọc H - sinh ngày 21/02/2018 cháu Lý Hải Đ - sinh ngày 23/06/2020. Hiện cả hai cháu Lý Ngọc H và cháu Lý Hải Đ đang ở cùng anh Lý A. Khi ly hôn anh Lý A có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, giáo dục cả hai cháu Lý Ngọc H và cháu Lý Hải Đ đến tuổi trưởng thành (18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lý A không yêu cầu chị Lý Thị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Anh Lý A và chị Lý Thị H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đối với bị đơn chị Lý Thị H: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị Lý Thị H nhưng tòa án không tống đạt được lý do không tống đạt được các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị Lý Thị H là chị Lý Thị H có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn T, xã C, huyện B nhưng từ khi lấy anh Lý A chị Lý Thị H về sinh sống tại thôn N, xã C thường xuyên đi làm ăn xa, thi thoảng mới về không ở ổn định tại nơi cư trú. Vì Vậy Tòa án tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị Lý Thị H, chị Lý Thị H cũng không có văn bản trả lời về việc anh Lý A có đơn xin ly hôn, nuôi con khi ly hôn chị Lý Thị H cũng không đến Toà án nhân dân huyện B làm bản tự khai và không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về ly hôn: Xử cho anh Lý A được ly hôn với chị Lý Thị H
Về con chung: Giao cháu Lý Ngọc H - sinh ngày 21/02/2018 và cháu Lý Hải Đ - sinh ngày 23/06/2020 cho anh Lý A trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Lý Ngọc H và cháu Lý Hải Đ đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Lý Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Lý A trình bày: Anh Lý A và chị Lý Thị H có đăng ký kết hôn ngày 24/03/2017 chung sống không hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn là do chị Lý Thị H tiêu sài chi tiêu không có sự tính toán, không chú tâm việc gia đình nuôi dạy con cái dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Đầu tháng 4/2023 chị Lý Thị H tự ý đi làm việc ở nơi khác không bàn bạc với gia đình, từ đó anh Lý A và chị Lý Thị H sống ly thân không ai quan tâm đến ai cả về tình cảm cũng như kinh tế. Vì vậy người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Lý A đề nghị HĐXX giải quyết tuyên xử ly hôn cho anh Lý A và chị Lý Thị H. Về con chung: Đề nghị HĐXX xem xét giải quyết cho anh Lý A được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Lý Ngọc H - sinh ngày 21/02/2018 và cháu Lý Hải Đ - sinh ngày 23/06/2020 cho đến khi các cháu Lý Ngọc H và Lý Hải Đ đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Lý Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và áp dụng pháp luật: Anh Lý A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với chị Lý Thị H có địa chỉ tại thôn T, xã C, huyện B, tỉnh L vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình giải quyết về nội dung khởi kiện. Nguyên đơn anh Lý A không tham gia hòa giải, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hoà giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa anh Lý A vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Lý Thị H vắng mặt lần thứ hai không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh Lý A và chị Lý Thị H theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự
[2] Xét yêu cầu khởi kiện: Anh Lý A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lý Thị H.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý A và chị Lý Thị H có đăng ký kết hôn ngày 24/03/2017 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh L là hôn nhân hợp pháp, sau khi kết hôn chị Lý Thị H về sinh sống tại nhà Lý A. Quá trình chung sống anh Lý A và chị Lý Thị H phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do chị Lý Thị H tiêu sài chi tiêu không có sự tính toán, không chú tâm việc gia đình nuôi dạy con cái dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Đầu tháng 4/2023 chị Lý Thị H tự ý đi làm việc ở nơi khác không bàn bạc với gia đình, từ đó anh Lý A và chị Lý Thị H sống ly thân không ai quan tâm đến ai cả về tình cảm cũng như kinh tế. Tại biên bản xác minh ngày 10/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện B đã được ông Lý A Cường là trưởng N, xã C cho biết anh Lý A và chị Lý Thị H thường xuyên đánh cãi chửi nhau, chị Lý Thị H đi làm ăn xa thi thoảng mới về nhà nhưng về nhà là lại đánh cãi chửi nhau, trưởng thôn phải sang can thiệp. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa anh Lý A và chị Lý Thị H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lý A đối với chị Lý Thị H.
[2.2] Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống anh Lý A và chị Lý Thị H có 02 người con chung cháu Lý Ngọc H - sinh ngày 21/02/2018 và cháu Lý Hải Đ - sinh ngày 23/06/2020. Khi ly hôn anh Lý A đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Lý A được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai Lý Ngọc H và cháu Lý Hải Đ đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) anh Lý A cho rằng chị Lý Thị H đi làm ăn xa thi thoảng mới về nhà, không có thời gian chăm sóc các con, hiện hai cháu Lý Ngọc H và cháu Lý Hải Đ đang ở cùng anh Lý A. Về cấp dưỡng nuôi con anh Lý A không yêu cầu chị Lý Thị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét việc giao nuôi con thì anh Lý A có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai cháu Lý Ngọc H - sinh ngày 21/02/2018 và cháu Lý Hải Đ - sinh ngày 23/06/2020 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) Việc nuôi con khi thông báo tiếp cận công khai chứng cứ cũng đã ghi quan điểm của anh Lý A về việc để anh Lý A trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai cháu Lý Ngọc H và cháu Lý Hải Đ, chị Lý Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Lý A, chị Lý Thị H không có ý kiến gì cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Anh Lý A hiện đang làm công nhân tại Công ty cổ phần thăng long phố cũ mức lương ổn định 7.460.000đồng/ 1 tháng đảm bảo việc nuôi con. Hiện nay chị Lý Thị H thường xuyên vắng nhà nên không có thời gian để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con. Vì vậy căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình giao cháu Lý Ngọc H và cháu Lý Hải Đ cho anh Lý A nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị Lý Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Lý A.
[2.3] Về tài sản chung: Anh Lý A và chị Lý Thị H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Anh Lý A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.
Từ những nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ly hôn giữa anh Lý A và chị Lý Thị H. Quan hệ hôn nhân của anh Lý A và chị Lý Thị H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Lý Ngọc H - sinh ngày 21/02/2018 và cháu Lý Hải Đ - sinh ngày 23/06/2020 cho anh Lý A trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Lý Ngọc H và cháu Lý Hải Đ đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Lý Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con chị Lý Thị H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Lý A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000641 ngày 08 tháng 05 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B. Xác nhận anh Lý A đã nộp đủ tiền án phí ly hôn.
4. Quyền kháng cáo: Anh Lý A, chị Lý Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thanh Hương |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH L về kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH L
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử cho ly hôn giữa anh Lý A và chị Lý Thị H
