|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HNGĐ - ST. Ngày: 06 - 6 - 2024. "V/v ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Rực.
Ông Võ Văn Phượng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2024/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị L, sinh năm 1978; địa chỉ: Số X, khu vực T, phường T, quận R, Thành phố T (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Đặng Văn H, sinh năm 1975; địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện lập ngày 15/02/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Dương Thị L trình bày: Bà Dương Thị L và ông Đặng Văn H tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân Phường T, Quận R, Thành phố T cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 36, ngày 31/3/2006. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2010 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đời sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà L và ông H sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay, sau khi sống ly thân thì bà L và ông H sống ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian chung sống, bà L và ông H có 02 người con chung là Đặng Hùng C, sinh ngày 13/8/1997 và Đặng Thị Kim N, sinh ngày 13/3/2000. Hiện nay các con chung đã thành niên; về tài sản chung và nợ chung không có.
Tại phiên tòa, bà Dương Thị L yêu cầu ly hôn với ông Đặng Văn H; về con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: Không có nên bà L không yêu cầu gì.
Đối với bị đơn ông Đặng Văn H: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông H, nhưng ông H không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông H 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng ông H vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn ông Đặng Văn H đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Đặng Văn H chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng ông Đặng Văn H và bà Dương Thị L đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thị L; về con chung đã thành niên bà L và ông H không yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét; về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 15/2/2024, nguyên đơn bà Dương Thị L trình bày: Bà Dương Thị L và ông Đặng Văn H tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân Phường T, Quận R, Thành phố T cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 36, ngày 31/3/2006. Bà Dương Thị L yêu cầu ly hôn với ông Đặng Văn H; về con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: Không có nên bà L không yêu cầu gì. Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Trong vụ án, bị đơn ông Đặng Văn H hiện đang cư trú tại ấp S, xã T, huyện P, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Bị đơn ông Đặng Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông H.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Dương Thị L và ông Đặng Văn H tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường T, Quận R, Thành phố T cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 36, ngày 31/3/2006 nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bà L có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2010 do bất đồng trong quan điểm sống, không hợp nhau nên bà đã dời đi sinh sống tại Phường T, Quận R, Thành phố T, chấm dứt đời sống vợ chồng, không hàn gắn được tình cảm nên đã sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay và sau khi sống ly thân đến nay thì bà L và ông H không có thể hàn gắn tình cảm. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng bà L và ông H đoàn tụ với nhau nhưng ông H vẫn vắng mặt và bà L vẫn kiên quyết ly hôn với ông H vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng bà L và ông H đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của bà L là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông H.
[5] Về con chung: Bà Dương Thị L xác định trong thời gian chung sống, bà L và ông Đặng Văn H có 02 người con chung là Đặng Hùng C, sinh ngày 13/8/1997 và Đặng Thị Kim N, sinh ngày 13/3/2000 hiện nay đã thành niên và bà L không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dương Thị L xác định trong thời gian chung sống bà L và ông Đặng Văn H không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Dương Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Đặng Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị L.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị L được ly hôn với ông Đặng Văn H.
1.2. Về con chung: Bà Dương Thị L xác định trong thời gian chung sống, bà L và ông Đặng Văn H có 02 người con chung là Đặng Hùng C, sinh ngày 13/8/1997 và Đặng Thị Kim N, sinh ngày 13/3/2000 hiện nay đã thành niên và bà L không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dương Thị L xác định trong thời gian chung sống bà L và ông Đặng Văn H không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003336 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà Dương Thị L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Đặng Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Ánh |
Bản án số 29/2024/HNGĐ - ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
