TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST Ngày 05-9-2024 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hải Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Anh Tuấn
Ông Nguyễn Công Biên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Tổ K 6, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn V, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ K 6, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đỗ Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2010, chị và anh Vũ Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 27 tháng 3 năm 2000 tại Ủy ban nhân dân phường N, quận K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại tổ K 6, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do hai bên không hợp nhau về tính cách, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra bất hòa, cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành mà ngày càng trầm trọng. Hiện tại, chị và anh Vũ Văn V đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm và trách nhiệm gì với nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn V.
- Về con chung: Chị và anh Vũ Văn V có hai con chung tên là Vũ Hồng S, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2000 và Vũ Văn D, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2006. Ly hôn, các con chung đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Vũ Văn V là bị đơn trong vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng cho đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai anh Vượng vẫn không đến Tòa án và có ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, không tham gia phiên toà theo các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Vũ Văn V.
Về con chung: Chị Đỗ Thị H và anh Vũ Văn V có hai con chung là Vũ Hồng S, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2000 và Vũ Văn D, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2006. Hiện các con chung đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn là anh Vũ Văn V có nơi cư trú tại tổ K 6, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đỗ Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Vũ Văn V đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3]. Quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị H và anh Vũ Văn V được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 27 tháng 3 năm 2000 tại Ủy ban nhân dân phường N, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị H và anh Vũ Văn V là hôn nhân hợp pháp theo khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4]. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu khác do Tòa án thu thập được, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống vợ chồng chị Đỗ Thị H và anh Vũ Văn V hoà thuận đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm sống và không còn tin tưởng nhau về tình cảm dẫn đến vợ chồng thường hay xảy ra va chạm. Mặc dù mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không đạt kết quả. Hiện tại anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm và trách nhiệm gì với nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên tòa hai lần anh Vũ Văn V đều vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, chứng tỏ anh V không muốn níu kéo hôn nhân với chị Hiền. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh V đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Thị H xin ly hôn với anh Vũ Văn V.
[5]. Về con chung: Chị Đỗ Thị H và anh Vũ Văn V có hai con chung tên là Vũ Hồng S, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2000 và Vũ Văn D, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2006.
[6]. Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết, anh Vũ Văn V không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Vũ Văn V.
- Về con chung: Chị Đỗ Thị H và anh Vũ Văn V có hai con chung là Vũ Hồng S, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2000 và Vũ Văn D, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2006. Hiện các con chung đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004835 ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Chị Đỗ Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị H và anh Vũ Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Hải Hà |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đỗ Thị h xin ly hôn anh Vũ Văn V
